Bánh chưng

Bánh chưng là một sản vật xuất hiện từ rất xa xưa, từ thời đại Vua Hùng cho đến nay. Có thể nói, bánh chưng là một trong những sản vật mang đậm tính truyền thống, vừa có sức trường tồn cùng với thời gian, theo những tháng năm lịch sử của dân tộc, vừa rất gần gũi với đời sống thường nhật trong lĩnh vực văn hóa ẩm thực và tâm linh của người Việt Nam. Bên cạnh, nhiều truyền thống hiện đang bị mai một do hiện đại hóa thì một số giá trị truyền thống khác vẫn đang được người Việt lưu giữ cho đến tận ngày nay, đó là phong tục gói bánh chưng. Phong tục này thường được tổ chức vào những dịp tết đến, xuân về nhằm thể hiện sự biết ơn trời đất đã cho mưa thuận gió hòa để mùa màng bội thu đem lại cuộc sống ấm no cho con người.

(Ánh minh họa)

Những chiếc bánh chưng xanh hình vuông rất độc đáo, sáng tạo mang đậm bản sắc dân tộc mà theo như sự tích ông cha ta kể lại thì hình vuông là là tượng trưng cho đất. Nguyên liệu chính của những chiếc bánh hình vuông là lúa gạo Nếp, ví như hạt ngọc trời được nảy mầm và sinh trưởng từ đất, đây cũng là tượng trưng cho nền văn hóa lúa nước lâu đời của Việt Nam. Nếp được chọn để nấu bánh thường phải là loại nếp mùa hay nếp cái hoa vàng có hạt bóng mẩy và đều nhau.

Gạo nếp được ngâm ít nhất 8 giờ bằng nước lạnh sau đó vo qua, để ráo nước và xóc muối trắng lượng vừa phải cho thêm đậm đà. Ở nhiều nơi, để bánh có màu xanh đẹp, người ta thường dùng là riềng giã nát, sau nó hòa với nước, lọc lấy cốt rồi trộn với nếp trước khi gói. Bên cạnh lá riềng, người ta cũng có thể dùng lá nếp xay nhỏ với nước rồi lọc lấy cốt, ngâm cùng với gạo.

(Ảnh minh họa)

Phần nhân của bánh được làm từ thịt lợn mềm thơm được ướp gia vị đậm đà, nhân đậu xanh vừa ngon lành vừa bổ dưỡng. Cụ thể như đỗ xanh chứa chất thanh nhiệt giải độc giảm các hiện tương sưng tấy làm bánh chưng có vị thanh giúp cân bằng với độ béo của thịt và đồ nếp. Bên cạnh đó gạo nếp cung cấp lượng tinh bột lớn đồng thời có là một thực phẩm rất tốt cho gan. Nếu phần nhân bánh đã cầu kỳ thì công đoạn gói bánh chứng cũng cầu kỳ không kém. Nó đòi hỏi người gói bánh phải có kinh nghiệm trong việc chọn lá gói bánh và kỹ thuật gói điêu luyện, ví dụ như lá gói bánh phải là lá dong và cách gói phải thật kín, thật đẹp sao cho nước không thể vào trong thì bánh mới ngon. Lạt phải buộc thật chặt, chắc, không gói lỏng tay, cũng không quá chắc quá.

(Ảnh minh họa)

Điều độc đáo không kém so với kỹ thuật chọn nếp, làm nhân và gói bánh là nấu bánh. Bánh sau khi gói được xếp chồng lên nhau ngay ngắn và được chêm chặt để bánh được giữ cố định, phòng khi nước sôi có lực đẩy làm bánh bị xô đẩy sẽ bị vỡ, đổ nước ngập qua mặt bánh và luộc liên tục trong nhiều giờ. Thời gian luộc không có quy định rõ mà còn phục thuộc vào các yếu tố khác. Ví dụ như bánh to thì luộc lâu hơn bánh nhỏ, độ lửa, bánh nhiều hay bánh ít. Khi luộc bánh, người nấu bánh chỉ để lửa liu riu trong suốt quá trình luộc bánh và thêm nước liên tục, đảm bảo lúc nào cũng ngập trong nước để bánh chín đều. Sau khi luộc xong, vớt bánh ra rửa sạch lá trong nước lạnh cho hết nhựa, để ráo. Xếp bánh thành nhiều lớp, dùng vật nặng đè lên trong vài giờ để ép bánh cho ra nước, làm cho bánh chắc mịn và phẳng đều. Sau đó treo bánh lên hoặc để chỗ khô ráo trong nhà để bảo quản được lâu.

(Ảnh minh hoa

Có thể nói, bánh chưng là món ăn không thể thiếu trong mâm cơm được dâng lên cúng ông bà tổ tiên vào ngày mùng 3 tết. Mâm cơm mang ra mời khách đều có sắc màu xanh mướt của bánh chưng, mỗi gia chủ đều muốn mời khách thử bánh chưng nhà mình, đó được coi như một điều may mắn với gia chủ và như một lời chúc “ăn nên làm ra”. Ngày tết, ăn một miếng bánh chưng sau khi cúng lễ tổ tiên, ông bà, dư vị thời gian, không gian của lịch sử như cùng quy tụ trong màu xanh của bánh, mùi thơm thảo của hạt nếp tiền nhân để cùng suy ngẫm về ý nghĩa triết học và giá trị nhân văn của các truyền thuyết, các sự tích về bánh chưng của người Việt. Đó cũng là một cách di dưỡng tinh thần, làm giàu thêm bản sắc văn hóa tâm linh và văn hóa ẩm thực Việt Nam.

(Nguồn: Tổng hợp)

Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Previous
Next
22/04/2026
Quốc gia Loại gạo Giá (USD/Tấn) +/-
Min Max
  Việt Nam 5% broken 490 500
Jasmine
486 490
100% Broken
336 340
 Thái Lan 5% broken 388 392 -2
100% broken 369 373
  Ấn Độ 5% broken 346 350
100% broken 283 287
  Pakistan 5% broken 358 362 +1
100% broken 326 330 +2
  Miến Điện 5% broken 381 385
Từ ngày 16/04/2026 – 23/04/2026 (đồng/kg)
Loại HàngGiá Cao NhấtGiá Bình Quân+/- Tuần Trước
Lúa tươi tại ruộng
Lúa thơm6.3506.000243
Lúa thường5.8505.61196
Gạo nguyên liệu
Lứt loại 19.3509.000417
Lứt loại 28.9508.514257
Xát trắng loại 111.05010.810450
Xát trắng loại 210.5509.750205
Phụ phẩm
Tấm 1/27.7007.525-75
Cám xát/lau6.9506.707-79

Tỷ giá

22/04/2026
Mã NT Tên NT Units per USD
CNY Chinese Yuan Renminbi 6,82
EUR Euro 0,85
IDR Indonesian Rupiah 17.141,06
MYR Malaysian Ringgit 3,95
PHP Philippine Peso 60,01
KRW South Korean Won 1.478,37
JPY Japanese Yen 159,40
INR Indian Rupee 93,49
MMK Burmese Kyat 2.099,67
PKR Pakistani Rupee 278,79
THB Thai Baht 32,19
VND Vietnamese Dong 26.269,59