Việt Nam trúng thầu 10.000 tấn gạo xuất khẩu sang Hàn Quốc, nhu cầu lớn của Philippines, Trung Quốc kéo giá gạo tăng

Việt Nam vừa trúng thầu 10.000 tấn gạo tấm hạt dài với giá 435,90 USD/tấn xuất khẩu sang Hàn Quốc. Dự báo từ nay đến cuối năm giá gạo xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng hồi phục nhờ nhu cầu từ thị trường chủ lực Philippines và Trung Quốc.

Bản tin của Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết, Tổng công ty Thương mại Nông nghiệp, Thủy sản và Thực phẩm Hàn Quốc (KAFTC), Hàn Quốc đã phân bổ 114.833 tấn gạo trong đợt đấu thầu TRQ lần thứ bảy năm 2026, kết thúc ngày 15/9.

Theo đó, Trung Quốc giành được phần lớn nhất với 57.222 tấn gạo lứt hạt ngắn, với giá 899,40–904,91 USD/tấn, tiếp theo là Mỹ với 36.111 tấn gạo xay xát và gạo lứt hạt trung, với giá 856,03– 1.048,02 USD/tấn.

Việt Nam trúng thầu 10.000 tấn gạo tấm hạt dài với giá 435,90 USD/tấn, trong khi Thái Lan giành được 11.500 tấn gạo tấm hạt dài và gạo thơm, với giá 481,50–1.193,00 USD/tấn.

Tại thị trường gạo Nhật Bản đã chuyển nhanh từ thiếu hụt sang dư thừa trong hai năm qua do tác động của thời tiết, nhu cầu thay đổi và sản lượng tăng khi giá cao.

Tuy nhiên, biến đổi khí hậu, lao động nông nghiệp già hóa và diện tích đất bỏ hoang tiếp tục là rủi ro dài hạn đối với nguồn cung.

Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Nhật Bản (MAFF) đã phân bổ 837 tấn gạo trong đợt đấu thầu mua bán đồng thời SBS lần thứ ba theo CPTPP cho năm tài khóa 2026/2027, được tổ chức ngày 29/9/2026, so với 1.240 tấn mà cơ quan này dự kiến nhập khẩu.

Toàn bộ lượng gạo được phân bổ là gạo nguyên hạt, với hồ sơ dự thầu được nộp cho toàn bộ 837 tấn.

MAFF cho biết sẽ tiến hành một quy trình báo giá bổ sung vào ngày 30/9 đối với lượng chưa được phân bổ còn lại.

Đợt đấu thầu này nằm trong các cam kết của Nhật Bản theo Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), gồm 11 quốc gia thành viên.

Nguồn cung và tồn kho tăng đang kéo giá gạo Nhật Bản giảm; giá bán lẻ bình quân còn 2.971 yen/5 kg, trong khi tồn kho tư nhân đạt 1,62 triệu tấn trong tháng 7.

Năm 2026/2027, sản lượng dự báo 7,37 triệu tấn, tiêu dùng 7,94 triệu tấn, nhập khẩu 686.000 tấn, tồn kho cuối kỳ 2,52 triệu tấn và xuất khẩu 80.000 tấn. Chính phủ dự kiến mua 210.000 tấn để bổ sung dự trữ.

Theo The Japan Times, dư cung tiếp tục gây áp lực lên giá khi tồn kho vụ 2025 đạt 2,43 triệu tấn, sản lượng 2026 dự kiến 7,54 triệu tấn, cao hơn nhu cầu 7,11 triệu tấn; triển vọng giá vẫn chưa chắc chắn.

Chính phủ Philippines dự kiến tiếp tục duy trì nhập khẩu gạo trong năm 2026 để bảo đảm nguồn cung trong nước trước vụ thu hoạch đầu năm 2027.

Còn tại Philippines – thị trường mà Việt Nam đang xuất khẩu gạo nhiều nhất cũng có các động thái mới.

Cựu Bộ trưởng Nông nghiệp Philippines, ông William Dar cảnh báo rằng lượng dự trữ gạo hạn chế của nước này có thể tạo ra rủi ro đối với an ninh lương thực khi El Nino được dự báo sẽ làm sản lượng gạo giảm khoảng 12%.

Cơ quan Lương thực Quốc gia (NFA) chỉ thu mua 92.032 tấn lúa trong 9 tháng đầu năm 2026, thấp hơn nhiều so với mục tiêu ban đầu là 790.000 tấn, mặc dù cơ quan này đặt mục tiêu đạt ít nhất 500.000 tấn vào cuối năm.

Ông Dar khuyến nghị xây dựng lượng dự trữ gạo tương đương 30 ngày tiêu dùng trong giai đoạn đầu, sau đó tăng lên 60 và 90 ngày, trong khi NFA đang đề nghị 10,363 tỷ peso để xây dựng 36 kho chứa hiện đại và cải tạo 128 kho hiện có.

NFA của Philippines đang tăng cường thu mua gạo bằng cách đưa ra mức giá cạnh tranh hơn cho nông dân, nhằm mua tới 500.000 tấn lúa trong vụ mùa mưa và khôi phục lượng dự trữ gạo của Chính phủ.

 

Động thái này diễn ra trong bối cảnh nước này chuẩn bị ứng phó với tác động có thể xảy ra của El Nino mạnh, có thể gây gián đoạn sản xuất nông nghiệp và nguồn nước vào cuối năm 2026 và trong năm 2027.

Cùng với việc nâng giá thu mua, NFA đang mở rộng năng lực lưu trữ để tiếp nhận thêm hàng tồn kho. Chiến lược rộng hơn là tăng cường lượng gạo dự trữ của quốc gia, sau khi một lượng tồn kho lớn đã được giải phóng đáng kể thông qua các chương trình gạo trợ giá, đồng thời giảm nguy cơ thiếu hụt nguồn cung và áp lực giá trong tương lai.

Philippines đang chuẩn bị cho khả năng xảy ra thiếu hụt nguồn cung gạo, khi El Nino có thể tăng cường thành một hiện tượng rất mạnh trong giai đoạn từ tháng 9 đến tháng 12/2026 và kéo dài sang nửa đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ hạn hán, sản lượng nông nghiệp giảm và thiếu nước.

Chính phủ đang tăng cường hệ thống thủy lợi, nghiên cứu sử dụng máy bơm nước ngầm chạy bằng năng lượng mặt trời, điều chỉnh lịch thời vụ và mở rộng năng lực kho chứa để xây dựng lượng gạo dự trữ.

Rủi ro này đáng kể vì Philippines ngày càng phụ thuộc vào nhập khẩu, với 3,37 triệu tấn được nhập khẩu trong năm 2025 và lượng nhập khẩu có thể đạt 5,6 triệu tấn trong năm 2026. Trong khi Chính phủ ban đầu ước tính El Nino có thể làm sản lượng lúa giảm khoảng 700.000 tấn, lượng mưa và mực nước các hồ đập được cải thiện đã khiến ước tính trong kịch bản xấu nhất được điều chỉnh xuống khoảng 300.000–400.000 tấn, theo Bộ Nông nghiệp.

Mặc dù còn nhiều bất định, Chính phủ Philippines dự kiến tiếp tục duy trì nhập khẩu gạo trong năm 2026 để bảo đảm nguồn cung trong nước trước vụ thu hoạch đầu năm 2027.

Trong khi đó, tại Việt Nam, theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 9 tháng năm 2026, chúng ta đã xuất khẩu khoảng 6,45 triệu tấn gạo, trị giá 3,1 tỷ USD, giảm 5,4% về lượng và giảm 12,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.

Dự báo, trong những tháng cuối năm, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng hồi phục nhờ nhu cầu từ một số thị trường chủ lực như Philippines và Trung Quốc. Đến nay, đã có 552 tấn gạo đầu tiên mang định hướng “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” được xuất khẩu sang Nhật Bản, Australia, Singapore và Malaysia, bước đầu tạo uy tín cho sản phẩm gạo chất lượng cao, phát thải thấp của Việt Nam.

Theo PV Bình Minh báo https://danviet.vn/

Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Previous
Next
01/10/2026
Quốc gia Loại gạo Giá (USD/Tấn) +/–
Thấp nhất Cao nhất
Việt Nam Gạo thơm 5% tấm 440 445 –
Jasmine 515 519 –
100% tấm 371 375 –
Thái Lan 5% tấm 455 459 –
100% tấm 381 385 –
Ấn Độ 5% tấm 382 386 –
100% tấm 326 330 –
Pakistan 5% tấm 409 413 –
100% tấm 322 326 –
Miến Điện 5% tấm 455 459 –
Từ ngày 01/10/2026-08/10/2026 (đồng/kg)
Loại Hàng Giá Cao Nhất Giá Bình Quân +/– Tuần Trước
Lúa tươi tại ruộng
Lúa thơm 6.250 6.071 +29
Lúa thường 5.950 5.857 –
Gạo nguyên liệu
Lứt loại 1 9.450 9.092 -54
Lứt loại 2 8.950 8.786 -11
Xát trắng loại 1 10.525 10.320 +25
Xát trắng loại 2 9.950 9.855 -15
Phụ phẩm
Tấm 1/2 8.800 8.725 -14
Cám xát/lau 7.675 7.607 +71

Tỷ giá

Ngày 01/10/2026
Mã NT Tên NT Units per USD
CNY Chinese Yuan Renminbi 6,71
EUR Euro 0,88
IDR Indonesian Rupiah 17.914,33
MYR Malaysian Ringgit 4,08
PHP Philippine Peso 62,73
KRW South Korean Won 1.355,97
JPY Yen Nhật Bản 157,26
INR Indian Rupee 95,90
MMK Burmese Kyat 2.099,78
PKR Pakistani Rupee 277,16
THB Thai Baht 33,61
VND Vietnamese Dong 25.968,50