Thị trường nông sản trong tuần qua: Giá lúa tăng trở lại

Giá lúa ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung có sự tăng nhẹ trở lại so với tuần trước như Nàng Hoa 9 từ 6.400-6.500 đồng/kg, tăng 300 đồng/kg; OM 18 từ 6.000-6.100 đồng/kg, tăng 100 đồng…

Thu hoạch lúa ở Vĩnh Long. (Ảnh: Phạm Minh Tuấn/TTXVN)

Trong tuần qua, giá lúa ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung có sự tăng nhẹ trở lại so với tuần trước.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh An Giang, nhiều loại lúa có sự tăng giá so với tuần trước như: Nàng Hoa 9 từ 6.400-6.500 đồng/kg, tăng 300 đồng/kg; OM 18 từ 6.000-6.100 đồng/kg, tăng 100 đồng; IR 50404 ở mức từ 5.500-5.700 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg; riêng OM 5451 từ 5.800-6.000 đồng/kg vẫn giữ ổn định.

Về giá các loại gạo ở An Giang vẫn duy trì ổn định, như: Hương lài 19.000 đồng/kg, Sóc Thái 18.000 đồng/kg, gạo Nàng Nhen 20.000 đồng/kg, Nàng Hoa 17.500 đồng/kg, gạo trắng thông dụng 14.000 đồng/kg, gạo thơm thái hạt dài từ 18.000-19.000 đồng/kg; Jasmine từ 15.000-16.000 đồng/kg; gạo thường từ 11.500-12.500 đồng/kg.

[Gạo ST25 của Việt Nam đã thâm nhập vào thị trường Nhật Bản]

Mới đây, sản phẩm gạo ST25 mang thương hiệu A An được Công ty Cổ phần Tập đoàn Tân Long đưa thành công vào thị trường Nhật Bản. Gạo sẽ được nhập khẩu bởi Công ty Suntomi International và sau đó sẽ được Công ty Spice House phân phối trong các siêu thị và cửa hàng.

Ông Nguyễn Chánh Trung, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Tân Long, cho biết công ty đã đưa thị trường Nhật Bản vào kế hoạch xuất khẩu cách đây một năm khi lần đầu tiên cho ra mắt gạo ST25 tại thị trường nội địa. Khi tham gia vào thị trường Nhật Bản, doanh nghiệp không đặt mục tiêu về số lượng mà muốn tiếp cận các đối tượng khách hàng cụ thể và lựa chọn đối tác thương mại phân phối bán lẻ có uy tín.

Bên cạnh đó, Công ty Cổ phần Tập đoàn Lộc Trời cũng cho biết đơn vị đã hoàn tất việc xuất khẩu gần 500 tấn gạo mang thương hiệu riêng của tập đoàn – “Cơm ViệtNam Rice” sang thị trường châu Âu trong tháng 6/2022.

Kể từ khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) có hiệu lực đến nay, Tập đoàn Lộc Trời đã xuất khẩu khoảng 30.000 tấn gạo sang thị trường châu Âu. Tuy nhiên, các lô gạo xuất khẩu trước đó chỉ được phân phối dưới thương hiệu của đối tác các nước sở tại và đây là lần đầu tiên gạo do Lộc Trời tham gia sản xuất, mang thương hiệu riêng được xuất khẩu sang thị trường châu Âu.

Tuy số lượng không lớn nhưng việc các doanh nghiệp đáp ứng tốt hơn thị hiếu tiêu dùng của từng thị trường, đặc biệt với thương hiệu riêng của chính doanh nghiệp Việt đã góp phần nâng cao giá trị và tính cạnh tranh của lúa gạo và nông sản Việt trên toàn thế giới.

Về giá gạo xuất khẩu, tuần qua giá gạo 5% tấm Việt Nam chào bán ở mức từ 415- 420 USD/tấn, giảm từ mức từ  418- 423 USD/tấn của tuần trước. Một thương nhân nói: “Nguồn cung trong nước đang tăng khi hoạt động thu hoạch vụ Hè Thu đang diễn ra.”

Trong khi đó, nhu cầu đối với gạo Ấn Độ tăng mạnh trong tuần này do đồng rupee giảm, khiến gạo Ấn Độ trở nên hấp dẫn hơn so với gạo của Thái Lan và Việt Nam, còn Bangladesh cắt giảm thuế nhập khẩu để “hạ nhiệt” giá gạo trong nước.

Tại Ấn Độ – nước xuất khẩu gạo hàng đầu, giá gạo 5% tấm trong tuần này không thay đổi so với tuần trước, ở mức từ 355-360 USD/tấn.

Một nhà xuất khẩu có trụ sở tại Kakinada ở bang Andhra Pradesh, miền Nam Ấn Độ cho biết: “Người mua đang ưa chuộng gạo Ấn Độ vì giá thấp hơn. Nhu cầu rất cao đối với gạo trắng 25% và 100% tấm.”

Trong khi đó, tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm đứng ở mức từ 412-415 USD/tấn trong tuần này, giảm so với mức từ 420-425 USD/tấn của tuần trước.

Một thương nhân ở Bangkok cho biết: “Nhu cầu đang tăng nhưng không nhiều. Thị trường trầm lắng trong bối cảnh giá gạo của Ấn Độ rẻ hơn gạo Thái Lan.”

Thương nhân trên cho biết thêm người nông dân đang kỳ vọng vào triển vọng sản lượng cao trong năm nay, nhưng đồng thời họ đang chịu áp lực từ chi phí phân bón tăng cao.

Bangladesh cắt giảm thuế nhập khẩu gạo từ 62,5% xuống còn 25% và giới thương nhân cho biết một lượng lớn gạo sẽ đến từ quốc gia láng giềng Ấn Độ. Lũ lụt nguy hiểm tại Bangladesh làm thiệt hại nhiều diện tích cây trồng và khiến giá trong nước tăng đột biến, mặc dù đây là mùa thu hoạch cao điểm của vụ lúa lớn nhất của quốc gia Nam Á này.

Mặc dù Bangladesh là nước sản xuất gạo lớn thứ ba thế giới, nhưng quốc gia này thường xuyên phải nhập khẩu lương thực để đối phó với tình trạng thiếu hụt do thiên tai như lốc xoáy và lũ lụt.

Về thị trường nông sản Mỹ, trong phiên giao dịch ngày 1/7, giá các mặt hàng nông sản kỳ hạn trên sàn giao dịch Chicago (Mỹ, CBOT) đều giảm, với giá lúa mỳ và đậu tương giảm mạnh.

Cánh đồng lúa mỳ tại làng Zhovtneve (Ukraine). (Ảnh: Reuters/TTXVN)

Chốt phiên này, giá ngô giao tháng 12/2022 giảm 12,25 xu Mỹ (tương đương 1,98%) xuống 6,075 USD/bushel. Giá lúa mỳ giao tháng 9/2022 giảm 38 xu Mỹ (4,3%) xuống 8,46 USD/bushel. Còn giá đậu tương giao tháng 11/2022 giảm 62,75 xu Mỹ (4,3%), xuống 13,9525 USD/bushel (1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg).

Thanh khoản của thị trường nông sản toàn cầu vẫn ổn định dù thị trường năng lượng và chứng khoán đang tăng điểm và thu hút dòng vốn đầu tư. Giá ngô và lúa mỳ kỳ hạn tại Mỹ và châu Âu đang thấp hơn so với trước khi xảy ra cuộc xung đột Nga-Ukraine.

Chính phủ Nga đã thay đổi cách tính thuế xuất khẩu lúa mỳ dựa trên đồng ruble thay vì đồng USD. Mức giá cơ bản hiện được đặt ở 15.000 ruble (tương đương 285 USD), so với mức giá cơ bản trước đây là 200 USD.

Thị trường cà phê thế giới cho thấy, trong phiên giao dịch càphê ngày 2/7, giá càphê thế giới kỳ hạn đứng trước nguy cơ sụt giảm mạnh do đồng real của Brazil mất giá.

Kết thúc phiên giao dịch cuối tuần, giá càphê Robusta trên sàn ICE Europe – London tiếp tục sụt giảm. Kỳ hạn giao ngay tháng Chín giảm thêm 27 USD, xuống 2.006 USD/tấn và kỳ hạn giao tháng 11 giảm thêm 25 USD, còn 2.006 USD/tấn, các mức giảm rất đáng kể. Khối lượng giao dịch ở mức trung bình.

Tương tự, giá càphê Arabica trên sàn ICE US-New York cùng xu hướng giảm. Kỳ hạn giao ngay tháng 9 giảm 5,45 xu Mỹ, xuống 224,65 xu Mỹ/lb và kỳ hạn giao tháng 12 giảm 5,55 xu Mỹ, còn 221,50 xu Mỹ/lb, các mức giảm mạnh (1 lb=0,4535kg). Khối lượng giao dịch trên mức trung bình.

Tỷ giá đồng real tiếp tục suy yếu, xuống gần mức thấp nhất 5 tháng so với USD, đã thúc đẩy người Brazil mạnh tay bán cà phê vụ mới hiện đang thu hoạch với sản lượng Arabica vào năm được mùa theo chu kỳ “hai năm một,” do họ đang có lợi khi thu về được nhiều nội tệ hơn.

Trong khi đó, chỉ số đồng USD kỳ hạn (USDX) tiếp nối đà tăng trong rổ tiền tệ mạnh đã khiến giá cả các loại hàng hóa nói chung được thanh toán bằng đồng USD trở nên quá đắt đỏ cũng làm giảm sức mua.

Xung đột Nga-Ukraine vẫn chưa kết thúc, lạm phát toàn cầu chưa được cải thiện, nền kinh tế Mỹ ngày càng suy thoái nặng nề, thị trường tăng cường “đặt cược” vào việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ không “cứng rắn” trong phiên họp chính sách tiền tệ trong tháng 7/2022, đã khiến phần lớn nhà đầu tư chuyển vốn quay lại các sàn chứng khoán, khiến sắc đỏ bao trùm các thị trường hàng hóa nói chung./.

Bích Hồng-Hà Chung (TTXVN/Vietnam+)

https://www.vietnamplus.vn/thi-truong-nong-san-trong-tuan-qua-gia-lua-tang-tro-lai/802752.vnp

Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Previous
Next

Từ ngày 06/06/2024-13/06/2024
(đồng/kg)

Loại Hàng Giá cao nhất Giá BQ +/- tuần trước
Lúa thường tại ruộng       7.150        7.061  -29 
Lúa thường tại kho       9.550        8.842  +267 
Lứt loại 1     11.450      11.042  -350 
Xát trắng loại 1      13.950      13.230  -510 
5% tấm     13.550      13.350  -171 
15% tấm     13.350      13.075  -217 
25% tấm     13.050      12.675  -242 
Tấm 1/2     10.450      10.279  -221 
Cám xát/lau       7.250        7.114  -79 

Tỷ giá

Ngày 14/06/2024
Mã NT Tên NT Units per USD
CNY Chinese Yuan Renminbi 7,26
EUR Euro 0,93
IDR Indonesian Rupiah 16493,52
MYR Malaysian Ringgit 4,71
PHP Philippine Peso 58,70
KRW South Korean Won 1384,62
JPY Japanese Yen 157,27
INR Indian Rupee 83,55
MMK Burmese Kyat 2098,17
PKR Pakistani Rupee 278,63
THB Thai Baht 36,68
VND Vietnamese Dong 25403,61