Đồng bằng sông Cửu Long: Chuyển dần từ ‘vựa lúa’ sang kinh tế nông nghiệp thích ứng

Đồng bằng sông Cửu Long: Chuyển dần từ 'vựa lúa' sang kinh tế nông nghiệp thích ứng
Giá lúa gần 10 năm dao động tăng rất ít trong khi vật tư nông nghiệp tăng cao. (Ảnh: PV)

(PLVN) – Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), việc giảm dần diện tích canh tác lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang trở thành định hướng phát triển ở nhiều địa phương, khi hiệu quả kinh tế từ cây lúa ngày càng thấp trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng cao; biến đổi khí hậu diễn biến khốc liệt và nhu cầu tái cơ cấu nông nghiệp ngày càng cấp thiết.

Giảm lệ thuộc vào cây lúa truyền thống

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, diện tích sản xuất lúa vụ đông xuân 2025 – 2026 tại ĐBSCL đạt gần 1,2 triệu ha, giảm hơn 26.000ha so với cùng kỳ năm trước. Dự kiến vụ thu đông 2026 tiếp tục giảm mạnh diện tích xuống khoảng 639.000ha nhằm chủ động ứng phó nguy cơ hạn hán và xâm nhập mặn do El Nino quay trở lại.

Tại Hội nghị sơ kết sản xuất trồng trọt vụ đông xuân 2025 – 2026 tổ chức ở Đồng Tháp, bà Nguyễn Thị Lê – Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh An Giang cho biết, áp lực lớn nhất hiện nay nằm ở thu nhập của người nông dân. Giá lúa suốt nhiều năm gần như không tăng đáng kể. Thậm chí, có loại thấp hơn 100 – 200 đồng/kg so với cách đây một thập niên. Trong khi đó, giá phân bón và vật tư nông nghiệp tăng gấp 2 – 3 lần khiến chi phí sản xuất đội lên rất cao. “Lợi nhuận của người trồng lúa rất bấp bênh, khiến nông dân không còn động lực sản xuất”, bà Nguyễn Thị Lê nhận định.

Trong nhiều năm, ĐBSCL từng được xem là “vựa lúa” bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và phục vụ xuất khẩu. Nhưng chính việc chạy theo sản lượng đã khiến nhiều vùng đất bị khai thác quá mức, phụ thuộc lớn vào phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và nguồn nước ngọt. Biến đổi khí hậu càng làm cho mô hình canh tác cũ trở nên thiếu bền vững.

Tái cơ cấu để phù hợp phát triển

Theo cảnh báo của ngành Nông nghiệp, El Nino trong giai đoạn cuối năm 2026 và mùa khô 2027 có thể gây thiếu nước nghiêm trọng tại nhiều khu vực ĐBSCL. Vì vậy, nhiều địa phương được khuyến cáo chủ động cắt giảm vụ thu đông ở những vùng không bảo đảm nguồn nước hoặc hệ thống thủy lợi yếu.

Tỉnh Đồng Tháp cũng đang xây dựng đề án chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang mục đích sử dụng có giá trị kinh tế cao hơn. Địa phương này rà soát toàn bộ diện tích canh tác để xác định những vùng trồng lúa lợi nhuận thấp nhằm chuyển sang cây ăn trái, nuôi thủy sản hoặc phát triển phi nông nghiệp.

Tại Cần Thơ, gần 3.148 ha đất lúa dự kiến được chuyển đổi sang cây trồng khác hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản. Mục tiêu là nâng cao giá trị trên cùng đơn vị diện tích và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.

Nhiều chuyên gia cho rằng đây là bước chuyển tất yếu. Trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng toàn cầu thay đổi, thị trường không còn ưu tiên số lượng lớn mà yêu cầu sản phẩm chất lượng cao, phát thải thấp và có khả năng truy xuất nguồn gốc rõ ràng.

Trao đổi với báo chí, ông Lê Thanh Tùng – Tổng Thư ký ngành hàng Lúa gạo cho rằng, việc giảm diện tích đất lúa không đồng nghĩa giảm vai trò của ngành lúa gạo, mà là tổ chức lại sản xuất theo hướng hiệu quả hơn. Việt Nam vẫn đủ khả năng bảo đảm an ninh lương thực dù diện tích lúa giảm, bởi năng suất và chất lượng ngày càng cải thiện nhờ ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa và giống mới.

Bài toán lớn nhất vẫn là bảo đảm hài hòa giữa chuyển đổi kinh tế và an ninh lương thực quốc gia. Trong bối cảnh thế giới còn nhiều bất ổn về nguồn cung lương thực, ĐBSCL vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh lúa gạo của Việt Nam. Vì vậy, việc giảm diện tích lúa hiện nay được xem là sự điều chỉnh có tính toán, nhằm tạo ra nền nông nghiệp hiệu quả hơn, thích ứng tốt hơn với khí hậu và mang lại thu nhập bền vững hơn cho người dân vùng ĐBSCL.

Theo PV Gia Hồng bao Pháp Luật Việt Nam https://baophapluat.vn/

Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Previous
Next
21/05/2026
Quốc giaLoại gạoGiá (USD/Tấn)+/
MinMax
Việt NamGạo thơm 5% tấm505520
Jasmine
524528
100% tấm339343+3
Thái Lan5% tấm434438+5
100% tấm409413+6
Ấn Độ5% tấm342346
100% tấm280284
Pakistan5% tấm348352-1
100% tấm321325
Miến Điện5% tấm392396
Từ ngày 07/05/2026 – 14/05/2026 (đồng/kg)
Loại Hàng Giá Cao Nhất Giá Bình Quân +/- Tuần Trước
Lúa tươi tại ruộng
Lúa thơm 6.750 6.329 214
Lúa thường 6.450 5.950 196
Gạo nguyên liệu
Lứt loại 1 10.150 9.567 -108
Lứt loại 2 9.650 8.914 96
Xát trắng loại 1 11.650 11.340 -35
Xát trắng loại 2 10.350 10.130 -110
Phụ phẩm
Tấm 1/2 7.950 7.700 114
Cám xát/lau 7.750 7.207 504

Tỷ giá

21/05/2026
Mã NTTên NTUnits per USD
CNYChinese Yuan Renminbi6.80
EUREuro0.86
IDRIndonesian Rupiah17,699.99
MYRMalaysian Ringgit3.97
PHPPhilippine Peso61.51
KRWSouth Korean Won1,499.12
JPY Yên Nhật158.85
INRIndian Rupee96.62
MMKBurmese Kyat2,099.99
PKRPakistani Rupee278.65
THBThai Baht32.58
VNDVietnamese Dong26,343.00