Những cảnh báo trong 6 tháng cuối năm

Kinhtedothi – Mặc dù kinh tế 6 tháng đầu năm có những tín hiệu tích cực song cũng còn nhiều vấn đề cần cảnh báo, tập trung vào một số nội dung đáng lưu ý.

Ảnh minh họa.

Ở đầu vào, vấn đề lớn nhất là vốn đầu tư, yếu tố vật chất trực tiếp quyết định tốc độ tăng trưởng. Tỷ lệ vốn đầu tư phát triển toàn xã hội/GDP trong 6 tháng chỉ đạt 29,4%, thấp nhất so với cùng kỳ trong nhiều năm qua và thấp xa so với mục tiêu định hướng (33%).

Trong 3 nguồn, vốn từ ngân sách sau nửa năm mới đạt 35,3% kế hoạch năm. Một vấn đề lớn ở đầu vào là giá nhập khẩu tăng trong thời gian dài và khá cao, làm cho chi phí sản xuất cao (chỉ số giá sản xuất sản phẩm 6 tháng tăng (nông, lâm nghiệp – thủy sản tăng 1,38%, công nghiệp tăng 4,75%, dịch vụ tăng 2,83%), có nhiều loại còn tăng cao hơn) do người sản xuất phải chịu, mà chưa thể chuyển hết cho hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng do sức mua thấp (CPI bình quân tăng 2,44%).

Đó là chưa kể, do bị đứt gãy nguồn cung hoặc do giá tăng rất cao, mà lượng nhập khẩu còn bị giảm như Hạt điều, Lúa mì, Ngô, Đậu tương, Than, Quặng và khoáng sản khác, Phân bón, Giấy, Bông, Xơ sợi dệt, Phế liệu sắt thép, Sắt thép, Kim loại thường khác.

Ở đầu ra, bao gồm tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Tiêu thụ trong nước, bên cạnh tốc độ tăng khá, nhưng đó là tốc độ tăng trên cơ sở gốc so sánh rất thấp do bị “bào mòn” sau 2 năm bị ảnh hưởng của đại dịch. Nói cách khác, tổng cầu dù tăng lên nhưng vẫn còn yếu, tăng chưa bao nhiêu so với trước đại dịch, thậm chí có một số chỉ tiêu còn chưa phục hồi, kể cả một số dịch vụ.

Xuất khẩu hàng hóa tăng khá cao, nhưng có một phần quan trọng do giá xuất khẩu tăng (8,03%). Nếu loại trừ giá, thì lượng xuất khẩu tăng khoảng 8,3%, trong đó lượng xuất khẩu một số mặt hàng còn giảm (như Hạt điều, Rau quả, Chè, Clanhke và ximăng, Than, Dầu thô, Xăng dầu, Chất dẻo nguyên liệu, Xơ sợi dệt, Sắt thép,…).

Đáng lưu ý, trong quan hệ buôn bán với nước ngoài, Việt Nam chuyển từ xuất siêu trong một số tháng trước sang nhập siêu trong tháng 5 – mà nhập siêu là một yếu tố góp phần làm suy giảm tốc độ tăng trưởng. Nhập siêu dịch vụ vẫn còn rất lớn và tăng so với cùng kỳ (8004 triệu USD so với 7699 triệu USD), trong đó lớn nhất là nhập siêu dịch vụ vận tải (4415 triệu USD) và dịch vụ du lịch (1829 triệu USD).

Chuyên gia kinh tế Đào Ngọc Lâm 

https://kinhtedothi.vn/nhung-canh-bao-trong-6-thang-cuoi-nam.html

Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Previous
Next

Từ ngày 09/05/2024-16/05/2024
(đồng/kg)

Loại Hàng Giá cao nhất Giá BQ +/- tuần trước
Lúa thường tại ruộng       8.150        7.929  -86 
Lúa thường tại kho       9.750        9.379  -150 
Lứt loại 1     12.800      12.017  -33 
Xát trắng loại 1      14.950      14.570  -80 
5% tấm     14.500      14.400  -7 
15% tấm     14.250      14.183  -17 
25% tấm     14.000      13.692  -142 
Tấm 1/2     11.450      10.864  +71 
Cám xát/lau       6.750        6.450  +443 

Tỷ giá

Ngày 17/05/2024
Mã NT Tên NT Units per USD
CNY Chinese Yuan Renminbi 7,22
EUR Euro 0,92
IDR Indonesian Rupiah 15952,02
MYR Malaysian Ringgit 4,69
PHP Philippine Peso 57,69
KRW South Korean Won 1354,25
JPY Japanese Yen 155,56
INR Indian Rupee 83,31
MMK Burmese Kyat 2099,24
PKR Pakistani Rupee 278,51
THB Thai Baht 36,13
VND Vietnamese Dong 25435,50