Đẩy mạnh sản xuất hữu cơ phát triển nông nghiệp bền vững

Sản xuất theo hướng hữu cơ đang là xu thế phát triển chung của nông nghiệp toàn cầu. Sản xuất hữu cơ không chỉ tạo ra những sản phẩm “sạch”, an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng mà còn ít gây tác động xấu cho môi trường, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững.

Xu hướng sản xuất, tiêu dùng hữu cơ

Hiện một số doanh nghiệp trên địa bàn Cần Thơ cũng đã có sản phẩm gạo hữu cơ đưa ra thị trường.

Đời sống được nâng cao, người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng, an toàn của sản phẩm và có xu hướng quay về sống gần với thiên nhiên. Sản phẩm hữu cơ ngày càng được nhiều người quan tâm và nhiều quốc gia trên thế giới khuyến khích người dân phát triển sản xuất hữu cơ và đưa ra các bộ tiêu chuẩn cụ thể về sản phẩm hữu cơ. Qua các số liệu tổng hợp và báo cáo gần đây của ngành nông nghiệp cho thấy, trên thế giới đã có khoảng 180 quốc gia sản xuất đạt các tiêu chuẩn hữu cơ và theo hướng hữu cơ. Diện tích đất tham gia sản xuất hữu cơ tại các quốc gia trên thế giới đã đạt hơn 50,9 triệu héc-ta.

Tại Việt Nam, Chính phủ, các bộ ngành Trung ương và các cấp thẩm quyền đã ban hành các nghị quyết, quyết định, thông tư, đề án, bộ tiêu chuẩn… nhằm tạo hành lang pháp lý để quản lý và thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2018/NĐ-CP ngày 29-8-2018 về nông nghiệp hữu cơ, trong đó Chính phủ đã có những hướng dẫn và quy định cụ thể về các nguyên tắc sản xuất hữu cơ và việc ghi nhãn sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Đặc biệt, năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 885/QĐ-TTg về Phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030. Theo đó, phấn đấu đến năm 2030, diện tích nhóm đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ đạt khoảng 2,5-3% tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp. Giá trị sản phẩm trên 1ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản hữu cơ cao gấp 1,5 -1,8 lần so với sản xuất phi hữu cơ.

Từ năm 2007, ở nước ta đã có những nông dân, doanh nghiệp thực hiện sản xuất hữu cơ theo các bộ tiêu chuẩn để được cấp giấy chứng nhận nhưng số lượng còn ít, với chỉ khoảng hơn 12.000ha. Đến năm 2016, con số này tăng lên hơn 53.000ha và năm 2020 đạt gần 240.000ha, với sự tham gia của nhiều nông dân và doanh nghiệp tại 46/63 tỉnh, thành trong cả nước. Hiện sản phẩm hữu cơ của nước ta đã được xuất khẩu đến nhiều quốc gia trên thế giới, giúp mang về kim ngạch trên 300 triệu USD/năm.

Gỡ khó

Việt Nam vốn có nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp, trong đó có làm nông nghiệp hữu cơ do có lịch sử vốn xuất phát từ nền nông nghiệp hữu cơ gắn với cây lúa nước. Do yêu cầu đảm bảo an ninh lương thực và cần sản xuất đạt sản lượng, năng suất cao, chúng ta có các can thiệp, sử dụng nhiều phân bón và thuốc hóa học đã làm cho hoạt động sản xuất hữu cơ của ta bị mất dần. Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, sản xuất hữu cơ ở nước ta đã có sự phục hồi trở lại, đặc biệt trong 5 năm gần đây. Song, tốc độ phát triển vẫn còn chậm do còn gặp nhiều khó khăn và trở ngại. 

Theo Tiến sĩ Ngô Thị Thanh Trúc, Giảng viên Khoa Kinh tế, Trường Đại học Cần Thơ, người tiêu dùng rất mong muốn có sản phẩm an toàn cho sức khỏe và đảm bảo cho môi trường nhưng không biết ai là người cung cấp cho mình, ngược lại người sản xuất sản phẩm hữu cơ còn gặp khó trong tiếp cận người tiêu dùng. Do đầu ra còn gặp khó và giá bán sản phẩm chưa tương xứng với công sức và các chi phí đầu tư nên chưa kích thích nông dân, doanh nghiệp tham gia sản xuất. 

Các quốc gia trên thế giới đặt ra nhiều tiêu chuẩn hữu cơ khác nhau mà chưa có tiêu chuẩn chung, từ đó gây khó cho nông dân và doanh nghiệp muốn tạo ra sản phẩm hữu cơ hướng đến thị trường xuất khẩu. Trong khi nhiều nông dân, doanh nghiệp và cả người tiêu dùng còn thiếu các thông tin, kiến thức về sản xuất hữu cơ theo các tiêu chuẩn và quy định hiện hành, do vậy rất cần ngành chức năng tăng cường công tác thông tin, tập huấn và hỗ trợ trong kết nối cung – cầu. Theo ông Trần Thế Như Hiệp, Phó Tổng Giám Đốc Công ty TNHH Công nghệ NHONHO, quy trình để chứng nhận một tiêu chuẩn hữu cơ cho sản phẩm hữu cơ, kể cả đối với trong nước và quốc tế đều không hề đơn giản. Các chủ thể sản xuất phải trải qua nhiều hoạt động mà một trong những hoạt động khó khăn nhất là phải chứng nhận, chứng minh được rằng điều kiện sản xuất, đặc biệt là môi trường đất và môi trường nước phải đáp ứng chuẩn hữu cơ, không bị nhiễm kim loại nặng và dư lượng các chất độc hại. Đây là yêu cầu tiên quyết, nếu không đảm bảo thì phải có giai đoạn chuyển đổi hữu cơ…

Dù sản xuất nông nghiệp hữu cơ còn ít nhưng đã được cả xã hội quan tâm và có những tiền đề. Theo ông Trần Thái Nghiêm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Cần Thơ, hiện Chính phủ cũng đã xây dựng nhiều chính sách để hỗ trợ sản xuất nông nghiệp hữu cơ, trong đó có nhiều chính sách được thể hiện rất rõ trong Nghị định số 109/2018/NĐ-CP của Chính Phủ. Bên cạnh quan tâm thực hiện đồng bộ các chính sách hỗ trợ  của chính phủ, ngành Nông nghiệp Cần Thơ cũng đang tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập huấn, hỗ trợ người dân nhân rộng các mô hình sản xuất hữu cơ gắn với phát triển thị trường tiêu thụ. Hiện trên địa bàn đã có các chủ thể là hợp tác xã, doanh nghiệp có những mô hình sản xuất tạo tiền đề để cho ra đời sản phẩm hữu cơ. Cụ thể như, mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt, sản xuất đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và những mô hình chủ thể sản xuất thực hiện các giải pháp loại bỏ thuốc bảo vệ thực vật hóa học ra khỏi đồng ruộng…

Bài, ảnh: KHÁNH TRUNG

https://baocantho.com.vn/day-manh-san-xuat-huu-co-phat-trien-nong-nghiep-ben-vung-a147983.html

Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Previous
Next

Từ ngày 27/06/2024-04/07/2024
(đồng/kg)

Loại Hàng Giá cao nhất Giá BQ +/- tuần trước
Lúa thường tại ruộng       7.050        6.971  -136 
Lúa thường tại kho       8.850        8.617  -192 
Lứt loại 1     11.450      10.975  -217 
Xát trắng loại 1      13.450      12.917  -175 
5% tấm     13.350      13.171  -121 
15% tấm     13.150      12.908  -183 
25% tấm     12.750      12.492  -167 
Tấm 1/2     10.450        9.664  -164 
Cám xát/lau       7.150        7.000  +21 

Tỷ giá

Ngày 12/07/2024
Mã NT Tên NT Units per USD
CNY Chinese Yuan Renminbi 7,25
EUR Euro 0,92
IDR Indonesian Rupiah 16089,64
MYR Malaysian Ringgit 4,67
PHP Philippine Peso 58,40
KRW South Korean Won 1375,23
JPY Japanese Yen 157,95
INR Indian Rupee 83,52
MMK Burmese Kyat 2098,86
PKR Pakistani Rupee 278,45
THB Thai Baht 36,12
VND Vietnamese Dong 25533,06