Nhật Bản, Canada, Singapore đang có nhu cầu mua lượng gạo rất lớn, Việt Nam đang xuất khẩu những loại gạo đặc sản nào?

Bình Minh Thứ sáu, ngày 13/02/2026 12:59 GMT+7

Việt Nam đang là cường quốc xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu gạo của nước ta đạt khoảng 4,1 tỷ USD (khoảng hơn 8 triệu tấn), các loại gạo xuất khẩu chủ lực gồm gạo thơm đặc sản (ST25, ST24, Jasmine, Hương Lài, Đài thơm 8), gạo thông dụng (OM 5451, 5451, Japonica, Nàng Hoa, RVT), gạo nếp, gạo tấm.

Nhật Bản, Canada… rất ưa thích sử dụng gạo từ Việt Nam

Theo số liệu thống kê, tổng kim ngạch xuất khẩu gạo năm 2025 của Việt Nam đạt khoảng 4,1 tỷ USD (khoảng hơn 8 triệu tấn), tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.

Bước sang năm 2026, ngay trong tháng 1, Việt Nam xuất khẩu ước đạt 600.000 tấn gạo, kim ngạch 370 triệu USD, tăng 12,4% về lượng và 16,9% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu bình quân đạt 616,6 USD/tấn, tăng 4%.

Ngoài thị trường Philippines, Indonesia, Malaysia, các quốc gia ở châu Phi cũng đang nhập khẩu rất nhiều gạo của Việt Nam. Theo đó, năm 2025, Ghana và Bờ Biển Ngà nổi lên với mức tăng lần lượt 21,3% và 67,5%. Đáng chú ý, Bangladesh tăng gấp 125 lần.

Hiện, các loại gạo xuất khẩu chủ lực của Việt Nam gồm gạo thơm đặc sản (ST25, ST24, Jasmine, Hương Lài, Đài thơm 8), gạo thông dụng (OM 5451, 5451, Japonica, Nàng Hoa, RVT), gạo nếp và gạo tấm.

Theo đó, gạo ST24 và ST25 có nguồn gốc từ Việt Nam, được tạo ra bởi kỹ sư Hồ Quang Cua cùng nhóm nghiên cứu tại Sóc Trăng sau nhiều năm lai tạo các giống lúa địa phương để tạo ra giống lúa thơm chất lượng cao, có khả năng chịu mặn, kháng sâu bệnh tốt, với hạt gạo dài, trắng, dẻo thơm đặc trưng, đạt nhiều giải thưởng quốc tế và được xem là những giống gạo ngon nhất thế giới, trong đó ST25 là phiên bản cải tiến, tiếp nối thành công của ST24.

Nông dân tỉnh An Giang thu hoạch vụ lúa hè thu năm 2025. Ảnh: Hồng Cẩm

Gạo ST24 được vinh danh là một trong những loại gạo ngon nhất thế giới tại Hội nghị Quốc tế lần thứ 9 về Thương mại Gạo tổ chức tại Macau năm 2017.

Còn đối với gạo ST25 là phiên bản “nâng cấp” tiếp theo của ST24. Năm 2019, ST25 chính thức đạt giải Gạo ngon nhất thế giới tại Manila (Philippines), đưa thương hiệu gạo Việt Nam lên tầm cao mới.

Sau khi gạo ST24 và ST25 đạt danh hiệu ngon nhất thế giới năm 2017 và 2019, 2 loại gạo này của Việt Nam liên tục được các thị trường quốc tế chọn mua, đạt mức tăng trưởng xuất khẩu rất cao, nhất là với thị trường Mỹ.

Hiện nay, các xã ở khu vực Bạc Liêu cũ (nay thuộc tỉnh Cà Mau) có tổng diện tích đất trồng lúa khoảng hơn 191.000 ha; trong đó nông dân chuyên sản xuất lúa ST24 và ST25 lên đến gần 90.000 ha. Nhiều hộ dân đã thật sự đổi đời từ giống lúa có chất lượng “Gạo ngon nhất thế giới”.

Hiện nay, Việt Nam đang xuất khẩu nhiều loại gạo đặc sản, có giá trị cao như gạo ST24, ST25, Đài thơm 8, Japonica sang Mỹ, Nhật Bản… Ảnh: AI

Ngoài gạo ST24 và ST25, Việt Nam cũng đang xuất khẩu gạo Đài thơm 8, Japonica sang nhiều quốc gia, đặc biệt, Nhật Bản đang rất ưa chuộng 2 dòng gạo trên. Theo đó, năm 2025, Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An đã xuất khẩu lô hàng 500 tấn gạo mang nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” đầu tiên sang đất nước mặt trời mọc.

Ông Phạm Thái Bình – Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An thông tin, sau 500 tấn gạo Japonica được xuất khẩu sang Nhật Bản, Công ty dự kiến xuất khẩu khoảng 200 tấn gạo ST25 đạt chứng nhận “Gạo Việt xanh phát thải thấp” đi Australia với giá gần 1.200 USD/tấn.

Năm 2025, Trung An đã xuất khẩu khoảng 400.000 tấn gạo (Japonica, ST25) chứng nhận “Gạo Việt xanh phát thải thấp” ra nước ngoài, chủ yếu vào thị trường Nhật Bản.

Tập trung xuất khẩu gạo cao cấp, gạo “xanh”

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cơ cấu gạo xuất khẩu năm 2026 sẽ tiếp tục nghiêng mạnh về gạo chất lượng cao và gạo thơm, với sản lượng ước khoảng 5,8 triệu tấn, chiếm tới 75% tổng lượng xuất khẩu. Gạo nếp khoảng 773.000 tấn (10%), phần còn lại là gạo phục vụ chế biến, chiếm khoảng 15%.

Định hướng này phản ánh sự thay đổi rõ rệt trong tư duy phát triển ngành hàng. Thay vì cạnh tranh trực diện ở phân khúc gạo trắng thông thường có giá chỉ khoảng 300-350 USD/tấn, gạo Việt Nam đang dịch chuyển sang các dòng gạo thơm, gạo đặc sản có giá trị cao hơn và ít chịu áp lực cạnh tranh.

Ông Lê Thanh Tùng, Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA), cho biết, Việt Nam đã chủ động xoay chuyển, đầu tư mạnh vào các dòng gạo cao cấp để thích ứng với bối cảnh mới, phù hợp với đòi hỏi từ nhiều thị trường có tiêu chuẩn nhập khẩu cao.

“Nhật Bản mỗi năm nhập khẩu khoảng 700.000 tấn gạo, chủ yếu từ Hoa Kỳ và Thái Lan. Tuy nhiên, việc thiếu hụt nguồn cung đang mở ra cơ hội vàng cho gạo Việt Nam”, ông Tùng nhận định.

Lễ xuất khẩu lô “Gạo Việt xanh phát thải thấp” đầu tiên ở Việt Nam của Công ty Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An vào Nhật Bản. Ảnh: Lê Sơn

Còn theo ông Trương Sỹ Bá, Chủ tịch Tập đoàn Tân Long, doanh nghiệp đã xuất khẩu gạo mang thương hiệu A An sang Nhật Bản trong nhiều năm qua. Năm 2024 đạt hơn 5.000 tấn và năm 2025 đạt 30.000 tấn. “Nhật Bản là thị trường rất khó tính, đặt ra nhiều tiêu chuẩn cao đối với nông sản nhập khẩu, trong đó có mặt hàng gạo. Xuất khẩu gạo sang Nhật Bản rất khó, nhưng giá bán rất cao, thu về lợi nhuận kinh tế cao”, ông Bá chia sẻ.

Ngoài Nhật Bản, các thị trường như Hàn Quốc, EU, Canada cũng đang được kỳ vọng là điểm đến chiến lược trong hành trình nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam.

Tại Canada – nơi có hơn 7 triệu người gốc Á, gạo Việt Nam hiện mới chiếm dưới 2% thị phần. Dư địa để tăng trưởng còn rất lớn, đặc biệt khi các Hiệp định thương mại tự do đang phát huy tác dụng trong việc giảm thuế và mở rộng cửa cho nông sản Việt.

Tại Singapore – quốc gia nhập khẩu tới 90% thực phẩm, gạo Việt hiện đứng thứ ba về cung cấp, chỉ sau Ấn Độ và Thái Lan. Tốc độ tăng trưởng ổn định trong những năm qua cho thấy gạo Việt Nam hoàn toàn có khả năng chinh phục người tiêu dùng khó tính ở khu vực Đông Nam Á.

Xuất khẩu các dòng gạo cao cấp, gạo “xanh” đang được coi là hướng đi bền vững, nâng cao giá trị không chỉ cho doanh nghiệp mà cả người trồng lúa cũng được hưởng lợi.

PGS.TS Bùi Bá Bổng, Chủ tịch VIETRISA cho hay, trong tháng 10 và đầu tháng 11/2025, VIETRISA đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” cho 6 doanh nghiệp, gồm: VINARICE, Chơn Chính, A An, Trung An, Agrimex-Kikoku (AKJ) và King Green, với tổng cộng lượng gạo 52.220 tấn, được sản xuất từ 12.455 ha lúa.

Cơ cấu gạo xuất khẩu năm 2026 của Việt Nam: Ảnh: AI

Điểm nổi bật của lượng gạo được cấp nhãn hiệu là nguồn gốc được truy xuất chi tiết: Địa điểm sản xuất, giống lúa, vụ sản xuất, quy trình kỹ thuật áp dụng. Toàn bộ quá trình này được giám sát bởi Dự án chuyển đổi chuỗi giá trị lúa gạo ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững (TRVC).

Lượng phát thải khí nhà kính từ sản xuất lúa do các doanh nghiệp trên liên kết với nông dân hoặc hợp tác xã thực hiện đã được tổ chức quốc tế Regrow kiểm định độc lập, ghi nhận mức giảm từ 3,14 đến 4,63 tấn CO2 tương đương/ha. Đây là con số cho thấy việc áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật canh tác tiên tiến, sử dụng phân bón, nước tưới, quản lý rơm rạ… đã mang lại hiệu quả rõ rệt về môi trường, đồng thời tạo thêm giá trị gia tăng cho hạt gạo.

Các giống lúa được cấp chứng nhận nhãn hiệu tập trung vào nhóm gạo chất lượng cao, gồm OM18, Đài Thơm 8, ĐS1 (lúa japonica), ST25 và đặc biệt là các giống lúa Nhật như Hana, Akita và Koshi do Công ty Angimex-Kitoku sản xuất. Sự tham gia của các giống lúa đặc sản, lúa ngoại nhập cho thấy xu hướng đa dạng hóa nguồn nguyên liệu, hướng tới phân khúc thị trường cao cấp.

Theo PGS.TS Bùi Bá Bổng, tính đến nay, với việc hơn 70.000 tấn gạo được cấp nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” trong thời gian ngắn cho thấy sự vào cuộc mạnh mẽ của doanh nghiệp và nông dân trong thực hiện sản xuất lúa theo chuẩn mới. Đó không chỉ là câu chuyện giảm phát thải, ứng phó biến đổi khí hậu, mà còn là hướng đi chiến lược để gạo Việt nâng cao sức cạnh tranh, tiếp cận các thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn cao về môi trường và phát triển bền vững.

Nguon: https://danviet.vn/nhat-ban-canada-singapore-dang-co-nhu-cau-mua-luong-gao-rat-lon-viet-nam-dang-xuat-khau-nhung-loai-gao-dac-san-nao-d1402932.html

Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Previous
Next
Ngày 02/03/2026
Quốc gia  Loại gạo Giá
(USD/tấn)
+/
 Min Max 
 Việt Nam Gạo thơm 5% tấm 400 415
 Jasmine 430 434 -1
 100% tấm 316 320
 Thái Lan 5% tấm 381 385
 100% tấm 363 367
 Ấn Độ 5% tấm 351 355
 100% tấm 304 308
 Pakistan 5% tấm 362 366
 100% tấm 322 326 -1
 Miến Điện 5% tấm 354 358

Từ ngày 12/02/2026-26/02/2026
(đồng/kg)
Loại Hàng Giá Cao Nhất Giá Bình Quân +/- Tuần Trước
Lúa tươi tại ruộng  
Lúa thơm 5.950 5.743 -100
Lúa thường 5.450 5.411 -79
Gạo nguyên liệu      
Lứt loại 1 9.150 8.425 -267
Lứt loại 2 8.650 8.136 -136
Xát trắng loại 1 9.750 9.465 -85
Xát trắng loại 2  9.250 8.970 40
Phụ phẩm      
Tấm 1/2 7.750 7.618               –  
Cám xát/lau 8.050 7.921 -136

 

Tỷ giá

Ngày 02/03/2026
Mã NT Tên NT Units per USD
CNY Chinese Yuan Renminbi 6,86
EUR Euro 0,85
IDR Indonesian Rupiah 16.782,43
MYR Malaysian Ringgit 3,89
PHP Philippine Peso 57,72
KRW South Korean Won 1.439,95
JPY Japanese Yen 155,88
INR Indian Rupee 91,07
MMK Burmese Kyat 2.099,89
PKR Pakistani Rupee 279,36
THB Thai Baht 30,98
VND Vietnamese Dong 26.039,05