Hệ thống thủy lợi ĐBSCL phát huy hiệu quả, bảo vệ an toàn sản xuất

ĐBSCL Hệ thống thủy lợi vùng ĐBSCL được vận hành chủ động, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả nguồn nước, đáp ứng tốt nhu cầu nước cho sản xuất và dân sinh.

Cụm công trình giữ thế chủ động

Ngày 13/1, tại nhà điều hành cống Cái Lớn (xã Bình An, tỉnh An Giang), Cục Quản lý và Xây dựng công trình Thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch vận hành các công trình thủy lợi vùng ĐBSCL trong mùa khô 2025-2026 do Công ty TNHH MTV Khai thác Thủy lợi miền Nam quản lý.

Các đại biểu tham dự hội nghị triển khai kế hoạch vận hành các công trình thủy lợi vùng ĐBSCL trong mùa khô 2025-2026. Ảnh: Trung Chánh.

Theo ông Lê Tự Do, Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác Thủy lợi miền Nam, trong năm 2025, đơn vị đã ban hành 2 kế hoạch vận hành mùa và 36 kế hoạch vận hành tháng cho toàn bộ hệ thống công trình thủy lợi được giao quản lý. Việc điều hành được bám sát diễn biến khí tượng – thủy văn và tiến độ sản xuất của từng vùng dự án, bảo đảm kiểm soát hiệu quả các rủi ro từ xâm nhập mặn, triều cường, ngập úng đến mưa bão và áp thấp nhiệt đới.

Nổi bật nhất là cụm cống Cái Lớn – Cái Bé – Xẻo Rô, “trung tâm điều tiết mặn – ngọt” của vùng bán đảo Cà Mau. Trong mùa khô 2024-2025, hệ thống này đã được vận hành 21 ngày để kiểm soát mặn liên tỉnh. Mỗi khi triều cường kết hợp gió mùa đông bắc đẩy mặn xâm nhập sâu, các cửa van được đóng – mở linh hoạt, giữ độ mặn tại cầu Cái Tư và Trạm Bầu không vượt quá 1‰, bảo vệ an toàn vùng lúa, hoa màu và nguồn nước sinh hoạt của An Giang, Cà Mau và thành phố Cần Thơ.

Ông Lê Tự Do, Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác Thủy lợi miền Nam báo cáo kết quả vận hành các công trình thủy lợi vùng ĐBSCL do đơn vị được giao quản lý, khai thác. Ảnh: Trung Chánh.

Ở hệ thống thủy lợi Nam Măng Thít, cống Vũng Liêm tiếp tục phát huy vai trò “lá chắn mặn” với 50 lần vận hành trong mùa khô. Đặc biệt, trong đợt mặn cao điểm cuối tháng 1/2025, khi độ mặn phía hạ lưu lên gần 6‰, phía thượng lưu vẫn được giữ dưới 1‰, giúp vùng lúa và cây ăn trái của tỉnh Vĩnh Long an toàn, không bị ảnh hưởng.

Tại hệ thống Quản Lộ – Phụng Hiệp, cống âu thuyền Ninh Quới được vận hành liên tục 195 ngày, bắt đầu từ mùng 5 Tết khi độ mặn tại ngã tư Ninh Quới vượt 4‰. Việc đóng cống kịp thời đã chặn mặn không cho xâm nhập lên Ngã Năm, đồng thời bảo đảm nguồn nước ngọt cho hàng trăm nghìn ha lúa đông xuân của Cần Thơ và Cà Mau. Song song đó, hệ thống vẫn cấp nước mặn có kiểm soát cho vùng nuôi tôm chuyển đổi phía Bắc quốc lộ 1A, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa sản xuất lúa và thủy sản.

Nhờ sự phối hợp đồng bộ của các “van điều tiết” chiến lược này, toàn vùng hưởng lợi đã sản xuất an toàn gần 687.300 ha lúa với sản lượng hơn 4,63 triệu tấn. Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt trên 217.350 ha, chủ yếu là nuôi tôm nước lợ, cho sản lượng gần 11.700 tấn. Hạn mặn, từ chỗ là mối đe dọa thường trực, nay đã được đặt vào thế kiểm soát chủ động, bảo vệ vững chắc sản xuất và sinh kế của người dân.

Sẵn sàng vận hành mùa khô mới

Theo dự báo của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, mùa khô 2025-2026 có nhiều tín hiệu thuận lợi. Dòng chảy về Tân Châu và Châu Đốc trong các tháng đầu mùa khô được dự báo cao hơn trung bình nhiều năm, hiện tượng La Nina có khả năng duy trì, giúp gia tăng mưa trái mùa và giảm nguy cơ hạn hán gay gắt. Xâm nhập mặn trên sông Cái Lớn – Cái Bé được dự báo thấp hơn trung bình nhiều năm và mùa khô trước, với ranh mặn 4‰ chỉ vào sâu khoảng 43-45 km.

Ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình Thủy lợi yêu cầu xây dựng kế hoạch vận hành các công trình hết sức linh hoạt nhưng cần bám sát quy trình để nâng cao hiệu quả phòng chống thiên tai, bào vệ sản xuất. Ảnh: Trung Chánh.

Trên cơ sở đó, Công ty TNHH MTV Khai thác Thủy lợi miền Nam xây dựng phương án vận hành theo định hướng “mở tối đa khi nước tốt, đóng kịp thời khi mặn đến”. Với hệ thống Cái Lớn – Cái Bé, các cống sẽ mở tự do khi độ mặn tại cầu Cái Tư và Trạm Bầu dưới 1‰, chỉ vận hành linh hoạt khi mặn có nguy cơ vượt ngưỡng. Về cuối mùa khô, ngưỡng điều tiết sẽ được nâng lên để phù hợp với mô hình lúa – tôm vùng ven biển.

Cống Vũng Liêm tiếp tục đảm nhiệm vai trò kép: cấp nước ngọt khi điều kiện cho phép, đồng thời đóng ngăn mặn và trữ nước khi độ mặn vượt 1‰. Phương án vận hành sẽ được cập nhật hàng tháng, bám sát diễn biến thời tiết và tiến độ sản xuất của từng địa phương.

Riêng cống âu thuyền Ninh Quới tiếp tục vận hành theo nguyên tắc “mặn đóng, ngọt mở”, dựa trên độ mặn thực đo và hướng dòng chảy, đồng thời bảo đảm cấp nước mặn có kiểm soát cho khoảng 8.500 ha vùng nuôi thủy sản chuyển đổi tại Hồng Dân, Ninh Thạnh Lợi và Vĩnh Lộc.

Song song với công tác điều hành, toàn bộ hệ thống công trình đã được kiểm tra, bảo trì sau mùa mưa 2025, hệ thống điều khiển, cửa van, thủy lực và nguồn điện đều trong trạng thái sẵn sàng. Lực lượng phòng, chống thiên tai được kiện toàn, vật tư và phương tiện ứng trực đã được chuẩn bị cho mọi kịch bản.

Cụm cống Cái Lớn – Cái Bé – Xẻo Rô đã được vận hành 21 ngày để kiểm soát, điều tiết nguồn nước trong mùa khô 2024-2025, bảo vệ hiệu quả vùng sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Ảnh: Trung Chánh.

Ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình Thủy lợi đánh giá, mùa khô 2024-2025 là “phép thử lớn” đối với năng lực vận hành thủy lợi vùng ĐBSCL trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt. Tuy nhiên, nhờ sự chủ động và phối hợp đồng bộ giữa các hệ thống, toàn vùng đã kiểm soát tốt mặn, giữ vững nguồn nước ngọt, bảo vệ sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh.

Bước vào mùa khô 2025-2026, dù dự báo dòng chảy và lượng mưa thuận lợi hơn trung bình nhiều năm, song vẫn tiềm ẩn những thời điểm mặn tăng đột biến do triều cường. Trong điều kiện bố trí sản xuất đa dạng, từ vùng ngọt, lợ đến mặn, yêu cầu đặt ra là phải vận hành các công trình hết sức linh hoạt nhưng cần bám sát quy trình đã được ban hành, để vừa nâng cao hiệu quả phòng chống thiên tai, vừa đáp ứng tối ưu nhu cầu nước cho sản xuất và đời sống.

Đ.T.Chánh

https://nongnghiepmoitruong.vn/he-thong-thuy-loi-dbscl-phat-huy-hieu-qua-bao-ve-an-toan-san-xuat-d793560.html

Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Previous
Next
Ngày 28/12/2025
Quốc gia  Loại gạo Giá
(USD/tấn)
+/
 Min Max 
 Việt Nam Gạo thơm 5% tấm 415 430
 Jasmine 426 430
 100% tấm 315 319 +2
 Thái Lan 5% tấm 380 384 +4
 100% tấm 353 357 +1
 Ấn Độ 5% tấm 353 357
 100% tấm 304 308
 Pakistan 5% tấm 370 374 +1
 100% tấm 344 348 +1
 Miến Điện 5% tấm 349 353 -3

Từ ngày 22/01/2026-29/01/2026
(đồng/kg)
Loại Hàng Giá Cao Nhất Giá Bình Quân +/- Tuần Trước
Lúa tươi tại ruộng  
Lúa thơm 6.150 5.786 -204
Lúa thường 5.650 5.454 -29
Gạo nguyên liệu      
Lứt loại 1 9.050 8.617 -292
Lứt loại 2 9.650 8.464 379
Xát trắng loại 1 9.750 9.460 -440
Xát trắng loại 2  8.950 8.910 -200
Phụ phẩm      
Tấm 1/2 7.750 7.604 50
Cám xát/lau 8.050 7.750 43

 

Tỷ giá

Ngày 28/12/2025
Mã NT Tên NT Units per USD
CNY Chinese Yuan Renminbi 6,95
EUR Euro 0,83
IDR Indonesian Rupiah 16.700,97
MYR Malaysian Ringgit 3,95
PHP Philippine Peso 58,94
KRW South Korean Won 1.437,56
JPY Japanese Yen 153,03
INR Indian Rupee 91,51
MMK Burmese Kyat 2.099,98
PKR Pakistani Rupee 279,79
THB Thai Baht 31,01
VND Vietnamese Dong 26.140,67