Doanh nghiệp xuất khẩu gạo gặp khó

Thiếu container vận chuyển, giá cước vận tải tăng cao đang là những yếu tố khiến doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở Vĩnh Long gặp khó.

Ảnh minh họa: Đình Huệ/TTXVN

Theo Sở Công Thương tỉnh Vĩnh Long, trong các tháng đầu năm 2022, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo trên địa bàn tỉnh chỉ xuất khẩu gạo cho các đơn hàng đã ký kết của năm 2021 với số lượng rất hạn chế và chưa ký kết hợp đồng xuất khẩu mới.

Ông Nguyễn Văn Thành – Giám đốc Công ty TNHH Phước Thành IV cho biết, trong các tháng đầu năm 2022 công ty chỉ xuất khẩu gạo cho các hợp đồng đã ký kết của năm trước. Khó khăn chung hiện nay của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo là tình trạng thiếu container rỗng để đóng hàng và cước phí vận tải tàu biển quốc tế tăng rất cao, tùy theo quốc gia đến mà giá cước tăng từ 2-5 lần so với thông thường. Đa phần các doanh nghiệp bán hàng giá CIF (điều kiện giao hàng tại cảng xếp dỡ hàng) nên bị ảnh hưởng rất lớn, đòi hỏi doanh nghiệp phải tính toán kỹ hơn.

Bên cạnh đó, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam thời gian gần đây tuy đã có xu hướng tăng lên, nhưng mức giá chung của loại gạo trung cấp mà doanh nghiệp tập trung xuất cho thị trường Philippines vẫn còn thấp nhất trong 4 năm qua. Do giá xuất khẩu chưa thực sự tốt nên doanh nghiệp không vội ký kết đơn hàng mới mà chỉ tập trung cho thị trường trong nước và thu mua dự trữ.

Theo Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Trung Kiên, kết quả xuất khẩu gạo các tháng đầu năm của tỉnh sụt giảm khá mạnh. Nguyên nhân là do một số doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo trên địa bàn tỉnh đang trong giai đoạn tái cơ cấu nên không kinh doanh xuất khẩu gạo mà chủ yếu thu mua, cung ứng cho các doanh nghiệp xuất khẩu và kinh doanh thị trường trong nước. Bên cạnh đó, thiếu tàu vận chuyển, chi phí logistics tăng cao cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong duy trì hiệu quả kinh doanh.

Trong thời gian tới, tỉnh Vĩnh Long đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp xúc tiến thương mại, tìm kiếm mở rộng thị trường xuất khẩu thông qua các chương trình tư vấn xuất khẩu, hội nghị giao thương, hội chợ triển lãm, quảng bá sản phẩm tại các thị trường truyền thống như Philippines, Trung Quốc và khai thác thị trường đã ký Hiệp định thương mại tự do với Việt Nam (RCEP, EVFTA, CPTPP).

Bên cạnh đó, Sở Công Thương chỉ đạo Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp hỗ trợ nâng cấp, cải tiến quy trình thiết bị sản xuất gạo, bao bì… của các doanh nghiệp chế biến gạo. Sở phối hợp các ngành liên quan nâng cao chất lượng gạo, nông sản, đảm bảo truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, đáp ứng được các tiêu chuẩn, yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường truyền thống cũng như mở ra cơ hội xâm nhập vào các thị trường mới.

ADVERTISING

Mặt khác, Sở Công Thương phối hợp các sở, ngành, địa phương nghiên cứu, kêu gọi đầu tư hệ thống logistics phục vụ xuất khẩu, trong đó chú trọng kêu gọi đầu tư xây dựng các trung tâm sơ chế nông sản, kho lạnh bảo quản… để nâng cao chất lượng nông sản, tăng cường xuất khẩu sản phẩm chế biến và hạn chế sản phẩm thô để tăng giá trị xuất khẩu.

Ông Nguyễn Văn Thành – Giám đốc Công ty TNHH Phước Thành IV cho biết, bên cạnh giá cước vận tải biển tăng cao, theo dự báo giá phân bón tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới sẽ đẩy giá thành sản xuất gạo lên cao, làm giảm năng lực cạnh tranh xuất khẩu của gạo Việt Nam. Tuy nhiên, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã chủ động dự trữ được lượng gạo rất lớn khi giá xuất khẩu đang ở mức thấp và chờ có đơn hàng xuất khẩu giá tốt sẽ bán ra.

Ngoài ra, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cũng mong muốn giá gạo xuất khẩu tăng cao hơn trong thời gian tới để bù đắp chi phí sản xuất ngày càng tăng lên của nông dân.

Phạm Minh Tuấn (TTXVN)

https://baotintuc.vn/kinh-te/doanh-nghiep-xuat-khau-gao-gap-kho-20220425183916232.htm

Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Previous
Next
Ngày 15/04/2026
Quốc gia  Loại gạo Giá
(USD/tấn)
+/
 Min Max 
 Việt Nam Gạo thơm 5% tấm 460 470 +5
 Jasmine 456 460 +2
 100% tấm 333 337
 Thái Lan 5% tấm 382 386 +4
 100% tấm 359 363 +2
 Ấn Độ 5% tấm 340 344 +4
 100% tấm 283 287 -1
 Pakistan 5% tấm 350 354 +1
 100% tấm 319 323
 Miến Điện 5% tấm 364 368 +2

 

Từ ngày 02/04/2026 – 09/04/2026 (đồng/kg)
Loại HàngGiá Cao NhấtGiá Bình Quân+/- Tuần Trước
Lúa tươi tại ruộng
Lúa thơm5.9505.686+96
Lúa thường5.5505.461+82
Gạo nguyên liệu
Lứt loại 19.2508.650+138
Lứt loại 28.8508.300+161
Xát trắng loại 110.45010.105+410
Xát trắng loại 210.2509.530+510
Phụ phẩm
Tấm 1/27.7507.639+14
Cám xát/lau7.6507.114+32

Tỷ giá

Ngày 15/04/2026
Mã NT Tên NT  Units per USD
CNY Chinese Yuan Renminbi 6,82
EUR Euro 0,85
IDR Indonesian Rupiah 17.134,57
MYR Malaysian Ringgit 3,95
PHP Philippine Peso 59,80
KRW South Korean Won 1.471,41
JPY Japanese Yen 158,92
INR Indian Rupee 93,08
MMK Burmese Kyat 2.100,23
PKR Pakistani Rupee 278,86
THB Thai Baht 31,99
VND Vietnamese Dong 26.280,83