Chuyển đổi sang hệ thống lương thực thực phẩm xanh, ít phát thải

Xu hướng sản xuất và tiêu dùng xanh, ít phát thải sẽ chi phối thị trường nông sản và thương mại toàn cầu.

Diễn đàn trao đổi về vai trò của khu vực tư nhân trong phát triển Hệ thống thực phẩm và nông nghiệp xanh, giảm phát thải khí nhà kính. Ảnh: Bích Hồng/BNEWS/TTXVN

Sáng 13/4, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Tổ chức Tài chính Quốc tế tại Việt Nam (IFC) tổ chức Diễn đàn trao đổi về vai trò của khu vực tư nhân trong phát triển Hệ thống thực phẩm và nông nghiệp xanh, giảm phát thải khí nhà kính.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến, trước tác động của đại dịch COVID-19 và biến đổi khí hậu, nông nghiệp Việt Nam đã và đang là trụ cột của nền kinh tế, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực và giảm nghèo, góp phần ổn định xã hội và sinh kế cho trên 60% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn và đóng góp khoảng 15% GDP của quốc gia. Giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 48,6 tỷ USD năm 2021.

Nông nghiệp không chỉ là ngành chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu mà còn là nguồn gây phát thải khí nhà kính đáng kể. Theo số liệu kiểm kê khí nhà kính năm 2016, sản xuất nông nghiệp chiếm 13,9% tổng lượng phát thải khí nhà kính của quốc gia.

Tại COP26, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã đưa ra cam kết Việt Nam phấn đấu đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và hai cam kết khác có liên quan chặt chẽ đến ngành nông nghiệp đó là: cam kết tham gia sáng kiến “Giảm phát thải khí mê-tan toàn cầu”, cam kết thực hiện “Tuyên bố Glasgow về rừng và sử dụng đất”. Hiện nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang triển khai xây dựng Kế hoạch giảm nhẹ phát thải khí nhà kính ngành giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050, bao gồm Kế hoạch “Giảm phát thải khí mê-tan trong lĩnh vực nông nghiệp đến 2030”.
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 với mục tiêu “Xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, góp phần quan trọng trong việc ổn định kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và thực hiện có hiệu quả các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính… Sản xuất nông nghiệp có trách nhiệm, hiện đại, hiệu quả và bền vững. Phát triển nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, ít phát thải, thân thiện với môi trường và thích ứng với khí hậu…”.

Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, để thực hiện Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 và các cam kết quốc tế nói trên, Việt Nam cần có những nỗ lực rất lớn, không chỉ từ phía Chính phủ, mà cả khối tư nhân, doanh nghiệp, người sản xuất trực tiếp cùng tham gia thực hiện ở các quy mô khác nhau để khơi thông nguồn lực đầu tư của toàn xã hội. Đồng thời chuyển đổi mô hình sản xuất từ tăng trưởng về sản lượng, năng suất, sử dụng nhiều đầu vào, thâm dụng tài nguyên sang mô hình tăng trưởng nông nghiệp xanh, ít phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Cùng với phát triển bền vững, xu hướng sản xuất và tiêu dùng xanh, ít phát thải sẽ chi phối thị trường nông sản và thương mại toàn cầu. Do đó để có thể tham gia vào sân chơi chung của thế giới, chúng ta cần phải có những bước đi táo bạo và có tầm nhìn để chuyển đổi sang hệ thống lương thực thực phẩm xanh, ít phát thải và bền vững.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp; khơi dậy tinh thần khởi nghiệp; thực hiện đồng hành và tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp đầu tư, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp số, sạch, hữu cơ, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho biết.

Ông Alfonso Garcia Mora, Phó Chủ tịch Tổ chức Tài chính quốc tế Khu vực châu Á – Thái Bình Dương cho rằng, thực hiện những cải cách và đầu tư đáng kể để khắc phục tình trạng sản xuất lúa gạo và chăn nuôi phát thải nhiều các-bon. Công cuộc chuyển đổi này đòi hỏi các doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng phương thức kinh doanh xanh hơn, sạch hơn. Do đó, IFC tin rằng ngành thực phẩm và nông nghiệp sẽ phát triển theo hướng ngày càng vận dụng kiến thức chuyên môn và gia tăng giá trị hơn là theo hướng thâm dụng tài nguyên thiên nhiên và không ngừng tích luỹ sản lượng đầu ra. 

Để thực hiện thành công quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất lương thực tại Việt Nam, đặc biệt trong canh tác lúa gạo, vốn chiếm lượng phát thải khí Metan cao và chăn nuôi gia súc cần có hướng dẫn rõ ràng về mục tiêu đề ra cũng như có các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp để áp dụng các thực hành mới theo hướng khử các-bon.
Theo ông Alfonso Garcia Mora, đối với nền nông nghiệp Việt Nam nơi các nông trại quy mô nhỏ chiếm ưu thế, việc hợp tác giữa các hợp tác xã, các công ty đầu ngành và các nông trại quy mô nhỏ để gia tăng quy mô nền sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất và đẩy mạnh việc ứng dụng các công nghệ bền vững, chẳng hạn như canh tác lúa gạo bền vững sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự chuyển đổi.
IFC và Ngân hàng Thế giới sẽ hỗ trợ ngành nông nghiệp trong việc triển khai chương trình mới và thực hiện các khuyến nghị như: khuyến khích việc áp dụng các kỹ thuật thân thiện với môi trường, cải cách để triển khai các giải pháp kỹ thuật số trong lĩnh vực nông nghiệp, tăng khả năng tiếp cận tài chính cho sản xuất công nghệ cao, quy mô lớn, áp dụng công nghệ bền vững và tiêu chuẩn quốc tế, ông Alfonso Garcia Mora cho biết.

Với “tư duy đổi mới” và “cùng hành động”, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến tin rằng những nỗ lực của Chính phủ, sự chủ động của toàn ngành, sự đồng hành của khu vực tư nhân và cộng đồng doanh nghiệp, các Đối tác quốc tế… Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu trở thành quốc gia sản xuất và cung cấp lương thực thực phẩm minh bạch – trách nhiệm – bền vững, và một nền nông nghiệp xanh – giảm phát thải, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho hay./.

Bích Hồng/BNEWS/TTXVN 

https://bnews.vn/chuyen-doi-sang-he-thong-luong-thuc-thuc-pham-xanh-it-phat-thai/240266.html

Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Previous
Next

Từ ngày 25/01/2024-01/02/2024
(đồng/kg)

Loại Hàng Giá cao nhất Giá BQ +/- tuần trước
Lúa thường tại ruộng       8.950        8.714  -286 
Lúa thường tại kho     10.700        9.750  -467 
Lứt loại 1     12.900      12.733  -383 
Xát trắng loại 1      15.050      14.825  -800 
5% tấm     15.200      14.957  -76 
15% tấm     15.000      14.725  -83 
25% tấm     14.800      14.458  -75 
Tấm 1/2     12.500      11.664  -214 
Cám xát/lau       6.500        6.336  -164 

Tỷ giá

Ngày 16/02/2024
Mã NT Tên NT Units per USD
CNY Chinese Yuan Renminbi 7,19
EUR Euro 0,93
IDR Indonesian Rupiah 15657,24
MYR Malaysian Ringgit 4,78
PHP Philippine Peso 55,97
KRW South Korean Won 1333,93
JPY Japanese Yen 150,35
INR Indian Rupee 83,03
MMK Burmese Kyat 2098,57
PKR Pakistani Rupee 279,58
THB Thai Baht 36,01
VND Vietnamese Dong 24449,03