Chiến sự Nga-Ukraina làm đảo lộn hệ thống lương thực toàn cầu

Hệ thống lương thực toàn cầu đang bị đe dọa khi chiến dịch quân sự của Nga ở Ukraina làm một trong những vựa lúa mì lớn nhất thế giới lâm nguy.

Lạm phát lương thực

Chiến sự Ukraina đe dọa thực phẩm thiết yếu ở những vùng trồng ngũ cốc quan trọng của Châu Âu, đồng nghĩa với việc giá lương thực leo thang vốn đã gây khó khăn cho người tiêu dùng trên khắp thế giới có thể trở nên tồi tệ hơn, làm tăng mối đe dọa về một cuộc khủng hoảng đói toàn diện, Bloomberg cho hay.

Liên Hợp Quốc cảnh báo, chi phí lương thực toàn cầu đã ở mức kỷ lục có thể tăng thêm 22% do chiến sự tác động tới thương mại và giảm sản lượng thu hoạch trong tương lai.

Ngũ cốc là sản phẩm chủ lực nuôi sống thế giới, cùng với lúa mì, ngô và gạo, chiếm hơn 40% tổng lượng calo tiêu thụ.

Chi phí vận chuyển cao hơn, lạm phát năng lượng, thời tiết khắc nghiệt và tình trạng thiếu lao động khiến việc sản xuất lương thực khó khăn hơn. Thêm vào đó, nguồn cung đang bị thu hẹp: Các kho dự trữ ngũ cốc chuẩn bị cho lần giảm thường niên thứ năm liên tiếp, theo Hội đồng Ngũ cốc Quốc tế. Chiến sự Ukraina sẽ đẩy giá cả lên cao hơn nữa, đẩy nạn đói lên mức chưa từng có.

Người mua sắm trong cửa hàng tạp hóa ở Washington DC ngày 13.3. Ảnh: AFP

Giá lương thực toàn cầu đang ở mức cao nhất mọi thời đại, với chỉ số chuẩn của Liên Hợp Quốc đã tăng hơn 40% trong 2 năm qua. Tình trạng mất an ninh lương thực đã tăng gấp đôi cũng trong giai đoạn này, và 45 triệu người được ước tính đang bên bờ vực của nạn đói. Thị trường nông sản cũng tăng vọt. Lúa mì đã đạt kỷ lục mọi thời đại tại Chicago, Mỹ, vào ngày 8.3. Ngô và đậu tương đang giao dịch gần mức cao nhất trong nhiều năm.

Chủ nghĩa bảo hộ lương thực

Các chính phủ đang có động thái để đảm bảo nguồn cung lương thực, động thái có khả năng kéo dài lạm phát lương thực. Hungary, Indonesia và Argentina là một vài trong số các quốc gia áp đặt rào cản thương mại với xuất khẩu nông sản, từ lúa mì đến dầu ăn trong nỗ lực giảm giá nội địa và bảo vệ nguồn cung thực phẩm địa phương sau khi Nga phát động chiến dịch quân sự ở Ukraina dẫn đến lo ngại trên diện rộng về tình trạng thiếu hụt.

Nga cũng công bố các kế hoạch hạn chế thương mại với một số nguyên liệu thô. Nhà xuất khẩu lương thực lớn của Ukraina, MHP SE, đã chuyển hướng để cung cấp cho quân đội và dân thường Ukraina tại các thành phố bị đánh bom.

Theo ông Steve Mathews – trưởng bộ phận chiến lược của Gro Intelligence, các hạn chế thương mại có thể khiến giá quốc tế tăng cao hơn nữa do nguồn cung toàn cầu bị siết chặt. “Nó làm tăng thêm mối lo ngại về lạm phát” – ông nói. 

Các nhà cung cấp toàn cầu khác có thể có những động thái nhằm bù đắp thiếu hụt kho dự trữ. Ví dụ, Ấn Độ đã tăng các chuyến hàng lúa mì trong những năm gần đây và có thể thúc đẩy xuất khẩu lên mức kỷ lục 7 triệu tấn nếu xung đột kéo dài.

Tuy nhiên, những quốc gia có thể bù đắp thiếu hụt lại đang đối mặt với những vấn đề về sản xuất. Tại Brazil, nhà cung cấp ngô và đậu nành chính, hạn hán khiến cây trồng khô héo. Thời tiết khô hạn cũng gây mất mùa ở Canada và một số vùng của Mỹ. 

Đầu vào trang trại bị ảnh hưởng

Mọi thứ phục vụ phát triển thực phẩm ngày càng đắt đỏ hơn. Nga, nhà cung cấp lớn của mọi loại phân bón chính cho cây trồng, đã thúc giục các nhà sản xuất phân bón trong nước cắt giảm xuất khẩu vào đầu tháng này, làm dấy lên lo ngại về tình trạng thiếu hụt phân bón. 

Động thái của Nga gây thêm bất ổn cho thị trường toàn cầu khi nông dân Brazil – nước nhập khẩu phân bón lớn nhất thế giới – đang gặp khó khăn trong vấn đề cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng. Tổng thống Nga Vladimir Putin cho biết, Nga sẽ cung cấp phân bón cho các quốc gia có “quan hệ hữu nghị” với Nga, dù trước tiên nước này cần đảm bảo nguồn cung phân bón cho thị trường nội địa.

Giá phân bón đã tăng vọt trên toàn thế giới trong bối cảnh nguồn cung khó khăn và sản xuất gặp khó khăn. Tại Châu Âu, giá khí đốt – nguyên liệu đầu vào chính để sản xuất phân đạm – đã tăng cao, buộc một số cơ sở phải cắt giảm sản xuất. Giá nhiên liệu, được nông dân sử dụng để sưởi ấm chuồng trại và chạy các thiết bị dùng để sản xuất thực phẩm, cũng đang tăng chóng mặt. Bổ sung cho các sức ép này là những lệnh trừng phạt Nga, nhà cung cấp năng lượng lớn cho thế giới, với việc Mỹ và Anh sẽ cấm nhập khẩu dầu thô và các sản phẩm dầu khác của Nga.

Hạt lúa, ngô… trong một trang trại cừu ở Montejaque, Tây Ban Nha ngày 11.3.2022. Ảnh: AFP

Nguồn cung ở Biển Đen

Các tàu chở ngũ cốc dường như đang di chuyển ra khỏi Biển Azov, tuyến đường thủy nằm giữa Nga và Ukraina và nối với Biển Đen. Chiến dịch quân sự của Nga ban đầu khiến nguồn cung lúa mì và dầu thực vật của thế giới rơi vào hỗn loạn khi giao thông tàu thuyền trong khu vực bị đình trệ. Biển Đen cũng là thị trường xuất khẩu các loại phân bón lớn.

Tuy nhiên, những lo ngại về sự an toàn của thủy thủ đoàn và phí bảo hiểm khiến các chủ tàu không điều tàu đến Ukraina hoặc Nga. Các lệnh cấm bay cũng khiến thuyền viên Nga gặp khó khăn trong việc lên tàu hoặc trở về nhà. Ukraina và Nga cùng chiếm hơn 1/4 thương mại toàn cầu về lúa mì, cũng như 1/5 doanh số bán ngô.

Tích trữ

Trước đà tăng chóng mặt của thị trường nông sản, các quốc gia phụ thuộc vào nguồn cung nước ngoài gặp khó khăn. Làn sóng xung kích đang lan rộng kích hoạt mua sắm tích trữ, như mua dầu hướng dương ở Thổ Nhĩ Kỳ.

Ngay cả Indonesia, nhà xuất khẩu dầu ăn lớn nhất thế giới, cũng đang cảm nhận rõ sự căng thẳng: Các siêu thị đã quy định mỗi người chỉ được mua 1 sản phẩm dầu ăn khiến nhiều gia đình đưa con đến xếp hàng để có thể mua nhiều hơn.

Nỗi lo về nguồn cung lương thực cũng đang tăng ở hai quốc gia đông dân nhất thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ. Thương nhân Trung Quốc đang mua ngô và đậu tương của Mỹ để đảm bảo nguồn cung khi Bắc Kinh tăng cường chú trọng vào an ninh lương thực.

Nếu nguồn cung cấp ngũ cốc từ Biển Đen vẫn bị cắt, việc định tuyến lại thương mại nông sản toàn cầu sẽ trở nên quan trọng hơn, chuyên gia Mathews của Gro Intelligence lưu ý. 

THANH HÀ 

https://laodong.vn/tu-lieu/chien-su-nga-ukraina-lam-dao-lon-he-thong-luong-thuc-toan-cau-1023277.ldo

Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Previous
Next
29/04/2026
Quốc gia Loại gạo Giá (USD/Tấn) +/-
Min Max
  Việt Nam Gạo thơm 5% tấm 490 500
Jasmine
496 500 +6
100% tấm 335 339 -1
 Thái Lan 5% tấm 390 394 +2
100% tấm 369 373 -1
  Ấn Độ 5% tấm 349 353 -2
100% tấm 282 286
  Pakistan 5% tấm 350 354 -2
100% tấm 324 328 -1
  Miến Điện 5% tấm 383 387 +2
Từ ngày 16/04/2026 – 23/04/2026 (đồng/kg)
Loại HàngGiá Cao NhấtGiá Bình Quân+/- Tuần Trước
Lúa tươi tại ruộng
Lúa thơm6.3506.000243
Lúa thường5.8505.61196
Gạo nguyên liệu
Lứt loại 19.3509.000417
Lứt loại 28.9508.514257
Xát trắng loại 111.05010.810450
Xát trắng loại 210.5509.750205
Phụ phẩm
Tấm 1/27.7007.525-75
Cám xát/lau6.9506.707-79

Tỷ giá

29/04/2026
Mã NT Tên NT Units per USD
CNY Chinese Yuan Renminbi 6,84
EUR Euro 0,85
IDR Indonesian Rupiah 17.258,18
MYR Malaysian Ringgit 3,95
PHP Philippine Peso 61,15
KRW South Korean Won 1.472,78
JPY Yen Nhật Bản 159,54
INR Indian Rupee 94,64
MMK Burmese Kyat 2.099,98
PKR Pakistani Rupee 278,74
THB Thai Baht 32,51
VND Vietnamese Dong 26.388,53