Các nước đua nhau bảo vệ nguồn lương thực dự trữ bằng cách hạn chế xuất khẩu

(KTSG Online) – Chiến sự ở Ukraine đã mở ra một làn sóng bảo hộ mới khi các chính phủ tìm biện pháp đảm bảo lương thực và các hàng hóa khác cho người dân của họ bằng cách dựng lên các rào cản mới để ngăn chặn xuất khẩu. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo động thái đó sẽ làm phức tạp thêm các vấn đề mà họ đang xoay xở giải quyết.

Các bao phân bón chất đống ở cảng Mykolaiv của Ukraine. Kể từ khi cuộc xung đột Nga-Ukraine nổ ra vào cuối tháng 2, các nước đã áp đặt tổng cộng 43 lệnh hạn chế xuất khẩu lương thực, thực phẩm và phân bón. Ảnh: NY Times

Hạn chế xuất khẩu lương thực

Kể từ khi cuộc xung đột Nga-Ukraine xảy ra, một loạt các nước đã áp đặt các biện pháp hạn chế xuất khẩu lương thực và thực phẩm, khiến giá cả các mặt hàng này càng tăng cao hơn. Ukraine đã hạn chế xuất khẩu dầu hướng dương, lúa mì, yến mạch và gia súc nhằm bảo vệ nền kinh tế đang bị chiến tranh tàn phá. Nga đã cấm xuất khẩu phân bón, đường và ngũ cốc. Indonesia, nước sản xuất hơn một nửa lượng dầu cọ trên thế giới, cũng tạm cấm xuất khẩu mặt hàng dầu này hồi cuối tháng 4. Trong khi đó, Thổ Nhĩ Kỳ dừng xuất khẩu bơ, thịt bò, thịt cừu, dê, bắp và dầu thực vật.

Các hạn chế xuất khẩu như vậy đang khiến giá ngũ cốc, dầu, thịt và phân bón, vốn đã ở mức cao kỷ lục, trở nên đắt hơn và thậm chí khó mua hơn, làm tăng nguy cơ bất ổn xã hội ở các nước nghèo.

Kể từ đầu năm, các nước đã áp đặt tổng cộng 47 lệnh hạn chế xuất khẩu đối với lương thực, thực phẩm và phân bón, và 43 trong số đó được công bố kể từ khi chiến sự ở Ukraine nổ ra vào cuối tháng 2, theo dữ liệu theo dõi của Simon Evenett, giáo sư thương mại quốc tế và phát triển kinh tế tại Đại học St. Gallen (Thụy Sĩ).

Trước chiến tranh, Nga là nhà xuất khẩu lúa mì, gang, nickel, khí đốt lớn nhất thế giới đồng thời là nước xuất khẩu lớn ở các mặt hàng như than, dầu thô và phân bón. Ukraine là nước xuất khẩu dầu hạt hướng dương lớn nhất thế giới và là nước cung cấp đáng kể lúa mì, gang, ngô và lúa mạch cho thị trường toàn cầu.

Với việc nhiều nước đang phải đối mặt với các mối đe dọa nghiêm trọng về nguồn cung hàng hóa cơ bản, các nhà hoạch định chính sách đã nhanh chóng bỏ những thuật ngữ về thị trường mở và bắt đầu ủng hộ cách tiếp cận mang tính bảo hộ hơn. Họ đưa ra nhiều khuyến nghị từ việc xây dựng các chuỗi cung ứng an toàn cho một số nguyên vật liệu quan trọng ở các nước thân thiện cho đến cấm xuất khẩu và kêu gọi doanh nghiệp đưa hoạt động sản xuất về quê hương.

Trong một bài phát biểu mới đây, Bộ trưởng Tài chính Mỹ, Janet L. Yellen, cho biết đại dịch và chiến tranh đã cho thấy các chuỗi cung ứng của Mỹ, dù hiệu quả, nhưng lại không an toàn và không có khả năng chống chịu tốt các cú sốc. Dù khuyến cáo không nên chuyển theo xu hướng bảo hộ tuyệt đối, bà cho rằng Mỹ nên định hướng lại các mối quan hệ thương mại để hướng tới một nhóm các đối tác đáng tin cậy, ngay cả khi điều này sẽ làm chi phí của các doanh nghiệp và người tiêu dùng tăng cao hơn một chút.

Lúa mì là tâm điểm của các biện pháp bảo hộ

Một nhà máy chế biến dầu cọ ở tỉnh Riau, Indonesia. Kể từ ngày 28-4, Indonesia tạm dừng xuất khẩu dầu cọ để bảo đảm nguồn cung cho người dân trong nước. Ảnh: NY Times

Các biện pháp bảo hộ, đăc biệt là đối với lúa mì lan nhanh từ nước này sang nước khác. Trước chiến tranh, Nga và Ukraine xuất khẩu hơn một phần tư lượng lúa mì của thế giới, cung cấp thức ăn cho hàng tỉ người dưới dạng bánh mì, mì ống và thực phẩm đóng gói.

Ông Evenett cho biết làn sóng hạn chế xuất khẩu lúa mì bắt đầu sau khi Nga và Belarus kìm hãm xuất khẩu. Sau đó, các nước nằm dọc theo tuyến đường thương mại chính đối với lúa mì Ukraine, bao gồm Moldova, Serbia và Hungary, bắt đầu hạn chế xuất khẩu lúa mì của họ. Cuối cùng, các nhà nhập khẩu lúa mì lớn như Lebanon, Algeria và Ai Cập, cũng đưa ra các lệnh cấm xuất khẩu của riêng họ.

Ông Evenett cho biết tình hình có thể trở nên tồi tệ hơn trong những tháng tới. Vụ gieo trồng lúa mì vào mùa hè của Ukraine đang bị gián đoạn do chiến tranh khiến nông dân rời bỏ công việc đồng áng, còn công nhân thì phải ra trận. Các cửa hàng tạp hóa và thực phẩm ở Tây Ban Nha, Hy Lạp và Anh đã bắt đầu hạn chế số lượng ngũ cốc hoặc dầu ăn mà mọi người có thể mua. Một số lệnh cấm xuất khẩu lương thực không liên quan đến chiến tranh, nhưng chúng vẫn sẽ ảnh hưởng đến xung lực tăng giá trên toàn cầu.

Trung Quốc yêu cầu cho các công ty trong nước ngừng bán phân bón cho các nước khác vào mùa hè năm ngoái để bảo đảm nguồn cung trong nước. Giờ đây, Nga cũng dừng xuất khẩu phân bón, khiến tác động của lệnh cấm xuất khẩu của Trung Quốc càng tồi tệ hơn.

Lệnh cấm xuất khẩu của Indonesia đối với dầu cọ, một thành phần chính của thực phẩm đóng gói, chất tẩy rửa và mỹ phẩm, phù hợp với các lệnh cấm tương tự mà nước này đưa ra trước đây, với mục đích giữ giá dầu ăn ở mức phải chăng cho các hộ gia đình Indonesia.

Tuy nhiên, các biện pháp hạn chế thương mại như vậy sẽ khiến giá dầu thực vật tăng vọt, do nguồn cung từ Ukraine, nhà sản xuất dầu hướng dương lớn nhất thế giới, bị gián đoạn.

Tình trạng giá cả đắt đỏ sẽ còn kéo dài

Các chính phủ đưa ra những hạn chế xuất khẩu thường lập luận rằng nhiệm vụ của họ là ưu tiên đáp ứng nhu cầu của người dân và các quy tắc của WTO cho phép các nước áp dụng hành động như vậy để bảo đảm an ninh quốc gia.

Ngozi Okonjo-Iweala, Tổng giám đốc của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), cho biết cho đến nay có chưa tới 10% thành viên WTO áp đặt các hạn chế xuất khẩu và bà đã nhấn mạnh với họ rằng các hạn chế sẽ làm phức tạp thêm các vấn đề hiện nay.

Bà Okonjo-Iweala thừa nhận chiến tranh đã đặt ra những hoài nghi “chính đáng” về sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế. Nhưng bà kêu gọi các nước không đưa ra kết luận sai lầm về hệ thống thương mại toàn cầu vì nó đã giúp thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu và cung cấp cho các nước những hàng hóa quan trọng ngay cả trong thời kỳ đại dịch.

Nếu cuộc xung đột Nga-Ukraine kéo dài hoặc phương Tây tung ra các lệnh trừng phạt mới nhằm vào Moscow, điều này có thể khiến giá cả lương thực tăng hơn nữa. Nhưng ngay cả khi các khả năng đó không xảy ra, các yếu tố khác, vốn đẩy giá cả tăng trong thời gian qua, sẽ khó biến mất sớm.

Ngân hàng Thế giới cho biết cuộc chiến ở Ukraine đã làm thay đổi các mô hình thương mại theo cách có thể duy trì giá cả hàng hóa ở mức cao cho đến cuối năm 2024.

Các nước châu Âu đã bắt đầu tìm kiếm các nguồn cung hàng hóa mới, chẳng hạn như họ đang mua than giá đắt hơn từ các nước xa hơn như Colombia và Mỹ, để tránh mua từ Nga.

Và đà tăng giá của mặt hàng này sẽ tác động đến giá cả mặt hàng khác. Chi phí năng lượng cao hơn đang làm tăng giá phân bón. Điều đó lại đẩy giá nông sản lên cao khi chi phí cho các vụ mùa trở nên đắt hơn. Giá lúa mì tăng cũng sẽ đẩy giá gạo lên vì mọi người tìm kiếm các lựa chọn thay thế.

Ngân hàng Thế giới (WB) ước tính rằng giá hàng hóa phi năng lượng như nông sản và kim loại, sẽ tăng gần 20% trong năm 2022 trước khi điều chỉnh trong những năm tiếp theo, và giá lúa mì dự kiến ​​sẽ tăng hơn 40% để đạt mức cao mới trong năm nay.

Chánh Tài (Theo New York Times)

https://thesaigontimes.vn/cac-nuoc-dua-nhau-bao-ve-nguon-luong-thuc-du-tru-bang-cach-han-che-xuat-khau/

Cuộc thi gạo ngon Việt Nam lần 2 năm 2020
Cuộc thi gạo ngon Việt Nam lần 2 năm 2020
Cuộc thi gạo ngon Việt Nam lần 2 năm 2020
Cuộc thi gạo ngon Việt Nam lần 2 năm 2020
Cuộc thi gạo ngon Việt Nam lần 2 năm 2020
Cuộc thi gạo ngon Việt Nam lần 2 năm 2020
Cuộc thi gạo ngon Việt Nam lần 2 năm 2020
Cuộc thi gạo ngon Việt Nam lần 2 năm 2020
Cuộc thi gạo ngon Việt Nam lần 2 năm 2020
Cuộc thi gạo ngon Việt Nam lần I năm 2019
Cuộc thi gạo ngon Việt Nam lần I năm 2019
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Previous
Next

Từ ngày 24/11/2022-01/12/2022
(đồng/kg)

Loại Hàng Giá cao nhất Giá BQ +/- tuần trước
Lúa thường tại ruộng       6.550        6.418  +64 
Lúa thường tại kho       7.900        7.217  +242 
Lứt loại 1     10.000        9.738  +71 
Xát trắng loại 1      10.800      10.525  +125 
5% tấm     10.400      10.279  -29 
15% tấm     10.200      10.017  -67 
25% tấm     10.100        9.792  -100 
Tấm 1/2       9.500        9.207  -29 
Cám xát/lau       8.550        8.446  +21 

Tỷ giá

Ngày 21/11/2022
Mã NT Tên NT Units per USD
CNY Chinese Yuan Renminbi 7,17
EUR Euro 0,98
IDR Indonesian Rupiah 15726,71
INR Indian Rupee 4,58
MMK Burmese Kyat 57,41
MYR Malaysian Ringgit 81,71
PHP Philippine Peso 2099,47
PKR Pakistani Rupee 224,14
THB Thai Baht 36,28
VND Vietnamese Dong 24829,24