Biến đổi khí hậu đang là trở ngại lớn với hệ thống lương thực ASEAN

BNEWS Biến đổi khí hậu gây ra các tác động tiêu cực trên diện rộng đến các vấn đề nông nghiệp ở khu vực ASEAN như: chất lượng đất trồng, kiểm soát dịch hại, năng suất cây trồng…

Hạn mặn vào mùa khô đã có những tác động đến sản xuất lúa. Ảnh: TTXVN

Hơn một nửa những nhà hoạch định chính sách tại khu vực Đông Nam Á tham gia khảo sát của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á phối hợp với CropLife Châu Á đã đồng ý rằng biến đổi khí hậu là trở ngại lớn nhất mà hệ thống lương thực ASEAN đang phải đối mặt.

Đa số các nhà hoạch định chính sách tin rằng biến đổi khí hậu gây ra các tác động tiêu cực trên diện rộng đến các vấn đề nông nghiệp ở khu vực, bao gồm duy trì chất lượng đất trồng (92%), kiểm soát bệnh thực vật (88%), duy trì hiệu quả năng suất cây trồng (88%) và quản lý sâu bệnh, dịch hại (85%).

Đây là một số kết quả nổi bật được công bố trong Sách trắng Nghiên cứu phát hành mới đây với tiêu đề Khảo sát đối với các nhà hoạch định chính sách: Tác động của biến đổi khí hậu đối với nền nông nghiệp ASEAN.

Nghiên cứu này được thực hiện bởi Công ty nghiên cứu thị trường PSB Insights cùng sự hợp tác của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và tổ chức CropLife Châu Á. Mục đích của nghiên cứu là để hiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp, sản xuất lương thực và nông dân sản xuất nhỏ trong khu vực ASEAN và phương thức để giải quyết những thách thức đó.

Đa số các nhà hoạch định chính sách tham gia khảo sát đều thống nhất cho rằng tác động của biến đổi khí hậu là một trở ngại đáng kể mà khu vực ASEAN sẽ phải tính đến. Về những trở ngại lớn nhất mà hệ thống lương thực tại quốc gia của họ sẽ phải đối mặt trong 5 năm tới, 51% nhà hoạch định chính sách cho rằng quản lý tác động và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu là thách thức cấp bách nhất hiện nay.

Tiếp đến là các vấn đề về quản lý nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân số gia tăng, mở rộng giao thương nông sản, nguồn lực tài chính cho nông dân, đảm bảo đủ đất cho canh tác…

Hàng loạt những vấn đề về môi trường mà nông dân sản xuất quy mô nhỏ trong khu vực đang và sẽ phải đối mặt như: chất lượng đất, quản lý dịch hại, năng suất cây trồng và cơ hội thương mại nông sản.

Gần như tất cả các nhà hoạch định chính sách đều đồng ý rằng việc duy trì và cải thiện chất lượng đất là thách thức lớn nhất mà đất nước của họ phải đối mặt hiện nay, trong khi đó 91% tin rằng quản lý sâu bệnh, đảm bảo đủ năng suất cây trồng, mở rộng thị trường phù hợp và cải thiện khả năng bán hàng cho nông dân cũng là những vấn đề rất đáng lưu tâm. Các nhà hoạch định chính sách cũng gần như nhất trí rằng những thách thức sẽ trở nên tồi tệ hơn do biến đổi khí hậu.

Các nhà hoạch định chính sách đều cho rằng, mọi thành phần của xã hội đều sẽ chịu tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu. Đa số nhận định rằng nông dân là nhóm sẽ phải đối mặt với những tác động tiêu cực lớn nhất, đặc biệt liên quan tới năng suất cây trồng, an ninh lương thực.

Giải pháp để giải quyết các thách thức nêu trên, các nhà hoạch định chính sách cho rằng việc cung cấp kiến thức và tập huấn để nông dân tiếp nhận và sử dụng các giải pháp công nghệ nông nghiệp cũng như đổi mới khoa học trong lĩnh vực này sẽ là rất quan trọng để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu trong khu vực. Giải pháp này còn quan trọng hơn những thay đổi về chính sách hoặc các biện pháp tài chính như cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng của nông dân.

Bên cạnh đó, hợp tác công tư để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và bảo vệ hệ thống lương thực trong khu vực là một giải pháp được kỳ vọng được đưa ra. Các nhà hoạch định chính sách mong muốn chính phủ và các tập đoàn/đơn vị tư nhân sẽ cùng nhau hợp tác để cải thiện các chương trình tập huấn và tăng cường đổi mới trong khoa học và công nghệ nông nghiệp./.

Bích Hồng/BNEWS/TTXVN 

https://bnews.vn/bien-doi-khi-hau-dang-la-tro-ngai-lon-voi-he-thong-luong-thuc-asean/242813.html

Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Previous
Next
Ngày 26/12/2025
Quốc gia  Loại gạo Giá
(USD/tấn)
+/
 Min Max 
 Việt Nam Gạo thơm 5% tấm 420 440
 Jasmine 446 450
 100% tấm 319 323
 Thái Lan 5% tấm 401 405
 100% tấm 304 308
 Ấn Độ 5% tấm 352 356
 100% tấm 304 308
 Pakistan 5% tấm 356 360
 100% tấm 318 322
 Miến Điện 5% tấm 350 354

Từ ngày 08/01/2026-15/01/2026
(đồng/kg)
Loại Hàng Giá Cao Nhất Giá Bình Quân +/- Tuần Trước
Lúa tươi tại ruộng  
Lúa thơm 5.950 5.664 -64
Lúa thường 5.550 5.339 7
Gạo nguyên liệu      
Lứt loại 1 8.750 8.458 58
Lứt loại 2 7.950 7.771 -7
Xát trắng loại 1 9.550 9.320 -150
Xát trắng loại 2  9.000 8.870           –  
Phụ phẩm      
Tấm 1/2 7.780 7.651 23
Cám xát/lau 7.700 7.414 507

 

Tỷ giá

Ngày 26/12/2025
Mã NT Tên NT Units per USD
CNY Chinese Yuan Renminbi 7,01
EUR Euro 0,85
IDR Indonesian Rupiah 16.735,05
MYR Malaysian Ringgit 4,05
PHP Philippine Peso 58,79
KRW South Korean Won 1.446,86
JPY Japanese Yen 156,04
INR Indian Rupee 89,75
MMK Burmese Kyat 2.100,09
PKR Pakistani Rupee 280,18
THB Thai Baht 31,08
VND Vietnamese Dong 26.351,63