Giá lúa tăng nhưng cả nông dân và doanh nghiệp đều gặp khó

Thông tin được ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam nêu tại Hội nghị với các hiệp hội ngành hàng bàn biện pháp thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2026, do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức chiều 4/5.

Hội nghị do Thứ trưởng Võ Văn Hưng chủ trì. Ảnh: Bảo Thắng.

Hội nghị do Thứ trưởng Võ Văn Hưng chủ trì. Ảnh: Bảo Thắng.

Ông Nam cho biết trong vụ vừa qua, giá lúa có lúc giảm xuống còn khoảng 5.000 đồng/kg, mức khiến nhiều nông dân không muốn bán. “Lúa chín trên đồng” nhưng giao dịch khó do giá xuống quá thấp. Tuy nhiên, chỉ ít ngày sau, giá lúa tăng rất nhanh, trong khi lượng hàng có thể mua lại không còn nhiều.

“Không có lúa nào bán”, ông nói và nhận xét diễn biến này có liên quan lớn đến thị trường Philippines, nơi chiếm trên 40% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2025, nước này từng tuyên bố ngừng nhập khẩu trong 4 tháng cuối năm, khiến Việt Nam tồn kho khoảng hơn 1 triệu tấn. 

Sau giai đoạn hạn chế, Philippines đã mở mua khoảng 300.000 tấn. Ông Nam cho rằng động thái này khiến doanh nghiệp Việt Nam lo ngại đầu ra bị thu hẹp, bởi nếu thị trường chiếm gần một nửa xuất khẩu chỉ nhập lượng nhỏ, Việt Nam sẽ gặp khó trong tiêu thụ. Tuy nhiên, thực tế sau đó nhu cầu từ Philippines vẫn lớn hơn con số ban đầu, khiến thị trường đảo chiều nhanh.

Sự đảo chiều này làm nhiều doanh nghiệp lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan. Khi vào vụ, lo ngại thiếu hợp đồng và chịu áp lực cạnh tranh, các doanh nghiệp đẩy mạnh thu mua. Nhưng khi giá bị đẩy lên, lượng tồn kho trước đó lại khó bán, khiến chi phí tăng và biên lợi nhuận bị bào mòn. “Hầu hết doanh nghiệp đã lỗ nặng”, ông Nam bày tỏ và nhấn mạnh, nhiều đơn vị chưa biết việc giao hàng tiếp theo sẽ ra sao.

Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam. Ảnh: Bảo Thắng.

Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam. Ảnh: Bảo Thắng.

Trong chuỗi thu mua, thương lái là lực lượng giữ vai trò quan trọng vì trực tiếp mua lúa từ nông dân. Theo ông Nam, đây là nhóm “làm rất tốt” trong việc thu gom, nhưng lại gần như không nằm trong hệ thống quản lý. Họ có kho riêng và có thể giữ hàng, trong khi nông dân thường không đủ điều kiện sấy, trữ lúa lâu.

Khi giá thấp, người trồng lúa khó chủ động chờ giá. Đến lúc giá tăng, phần lớn nguồn hàng đã qua tay các khâu trung gian hoặc không còn dễ mua trong dân.

Ông Nam cho rằng vấn đề cốt lõi là phải giúp nông dân giữ được lúa lâu hơn. Muốn vậy, cần giải bài toán sấy và kho trữ lúa cho nông dân. Ông đề xuất có thể cho nông dân vay tiền, dùng lúa làm tài sản bảo đảm, hoặc cho gửi lúa tại kho doanh nghiệp, kho của các đơn vị xuất khẩu.

Ông dẫn ví dụ với cà phê và hồ tiêu, nhóm mặt hàng mà nông dân có khả năng giữ hàng và điều tiết lượng bán ra, còn doanh nghiệp chủ yếu làm dịch vụ. Với lúa gạo, nông dân chưa có điều kiện tương tự nên thường yếu thế hơn trong chuỗi giá trị.

 

Ngoài vấn đề kho trữ, doanh nghiệp còn vướng trong khâu thanh toán khi thu mua trực tiếp từ nông dân. Ông Nam cho biết, giao dịch lúa gạo ở nông thôn vẫn phụ thuộc nhiều vào tiền mặt, trong khi quy định thanh toán và quản lý dòng tiền khiến doanh nghiệp khó mua trực tiếp.

Nhiều nông dân không quen giao dịch qua tài khoản. Mỗi năm chỉ bán 1, 2 vụ lúa, số tiền không quá lớn nên việc mở tài khoản ngân hàng, rút tiền, đi lại bị coi là bất tiện. Vì vậy, doanh nghiệp khó tránh được việc phải mua qua các đầu mối trung gian.

Lãnh đạo Hiệp hội Lương thực Việt Nam phân tích, nếu không tháo gỡ các điểm nghẽn này, thị trường lúa gạo sẽ tiếp tục biến động theo chu kỳ cũ. Khi vào vụ, nông dân khó bán được giá tốt, còn khi giá tăng, doanh nghiệp lại khó gom hàng.

Lúa đông xuân trên cánh đồng xã Tam Nông, Đồng Tháp. Ảnh: Trọng Trung.

Lúa đông xuân trên cánh đồng xã Tam Nông, Đồng Tháp. Ảnh: Trọng Trung.

Chia sẻ với doanh nghiệp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cho biết đã trực tiếp làm việc với phía Philippines trong chuyến công tác gần đây và nhận thấy nhu cầu nhập khẩu gạo của thị trường này vẫn lớn. Đồng thời, hai bên đang thúc đẩy các khuôn khổ hợp tác dài hạn.

Theo ông Hưng, phía Philippines dự kiến thành lập đoàn công tác sang Việt Nam trong thời gian tới để làm việc về hợp tác chiến lược trong lĩnh vực lúa gạo. Điều này cho thấy nước này vẫn cần nguồn cung từ Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh chi phí sản xuất nội địa cao và không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.

Tuy nhiên, Thứ trưởng cũng cho rằng vấn đề đặt ra không chỉ là nhu cầu thị trường, mà là cách tiếp cận mang tính chiến lược. “Chúng ta phải có cách để đi vào các thỏa thuận dài hạn”, ông nói và nhấn mạnh nếu không có các cam kết ổn định, việc điều hành xuất khẩu sẽ tiếp tục bị động trước những thay đổi chính sách từ đối tác.

Liên quan đến thị trường trong nước, Thứ trưởng cho biết cơ quan quản lý đang xem xét các đề xuất hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, trong đó có phương án cho nông dân ký gửi lúa hoặc tăng khả năng dự trữ. Ông nhấn mạnh việc tổ chức lại khâu sấy, kho trữ và dịch vụ sau thu hoạch là điều kiện cần để nâng cao khả năng điều tiết thị trường.

Theo đó, về mặt kỹ thuật, việc đầu tư sấy, bảo quản không phải là vấn đề quá phức tạp, nhưng cần sự tham gia của doanh nghiệp và tổ chức thực hiện đồng bộ theo quy định. “Nếu làm tốt, nông dân có thể giữ lúa lâu hơn, giảm áp lực bán ngay khi thu hoạch”, Thứ trưởng cho biết.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cam kết, tiếp tục rà soát chính sách liên quan đến xuất khẩu, liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, nhằm xử lý các điểm nghẽn hiện nay. Trong quá trình triển khai, Thứ trưởng Võ Văn Hưng đề nghị các địa phương và doanh nghiệp, nếu gặp vướng mắc, cần phản ánh cụ thể để cơ quan quản lý có hướng điều chỉnh kịp thời.

Việc điều hành thị trường lúa gạo cũng cần được thực hiện linh hoạt hơn, gắn với các giải pháp dài hạn về tổ chức sản xuất, liên kết chuỗi và ổn định thị trường xuất khẩu, thay vì chỉ xử lý theo từng thời điểm biến động.

Theo PV Bảo Thắng báo Nông nghiệp&môi trường https://nongnghiepmoitruong.vn/

Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Previous
Next
05/05/2026
Quốc gia Loại gạo Giá (USD/Tấn) +/-
Min Max
Việt Nam Gạo thơm 5% tấm 510 520
Jasmine
513 517 +17
100% tấm 331 335 -2
Thái Lan 5% tấm 396 400 +3
100% tấm 367 371
Ấn Độ 5% tấm 346 350 +1
100% tấm 280 284 -1
Pakistan 5% tấm 350 354 +1
100% tấm 326 330 +1
Miến Điện 5% tấm 389 393 +6
Từ ngày 16/04/2026 – 23/04/2026 (đồng/kg)
Loại HàngGiá Cao NhấtGiá Bình Quân+/- Tuần Trước
Lúa tươi tại ruộng
Lúa thơm6.3506.000243
Lúa thường5.8505.61196
Gạo nguyên liệu
Lứt loại 19.3509.000417
Lứt loại 28.9508.514257
Xát trắng loại 111.05010.810450
Xát trắng loại 210.5509.750205
Phụ phẩm
Tấm 1/27.7007.525-75
Cám xát/lau6.9506.707-79

Tỷ giá

05/05/2026
Mã NT Tên NT Units per USD
CNY Chinese Yuan Renminbi 6.83
EUR Euro 0.85
IDR Indonesian Rupiah 17,417.81
MYR Malaysian Ringgit 3.96
PHP Philippine Peso 61.63
KRW South Korean Won 1,475.88
JPY Yen Nhật Bản 157.21
INR Indian Rupee 95.21
MMK Burmese Kyat 2,099.71
PKR Pakistani Rupee 278.76
THB Thai Baht 32.74
VND Vietnamese Dong 26,340.06