Thái Lan kêu gọi giảm trồng lúa niên vụ 2023-2024: Nguồn cung gạo trên thị trường có thiếu

Ngày 2/8, Thái Lan kêu gọi giảm trồng lúa để tiết kiệm nước do El Nino gây ra hạn hán. Nguồn cung gạo trên thị trường gạo niên vụ 2023-2024 có bị thiếu hụt?

Theo đó, Surasri Kidtimonton, tổng thư ký của Văn phòng Tài nguyên nước quốc gia Thái Lan, cho biết nông dân ở khu vực trọng điểm miền Trung đã gieo trồng phần lớn lúa nhưng chính phủ đang khuyến khích chuyển đổi sang các loại cây trồng khác cần ít nước hơn.

Thái Lan, nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, đang có ít mưa hơn khi quốc gia này chuẩn bị cho một đợt hạn hán có thể xảy ra vào năm tới do hiện tượng thời tiết El Niño dẫn đến các điều kiện khô hạn hơn. Lượng mưa tích lũy cho đến nay ở khu vực miền trung thấp hơn khoảng 40% so với mức bình thường và động thái hạn chế trồng ngũ cốc là để giúp tiết kiệm nước cho tiêu dùng hộ gia đình.

Giá gạo ở châu Á đã tăng lên mức cao nhất trong hơn ba năm vào tháng trước sau khi Ấn Độ – nước xuất khẩu lớn nhất thế giới cấm xuất khẩu một số lô hàng của nước này. Ngũ cốc, cụ thể là gạo, rất cần thiết cho chế độ ăn của hàng tỷ người và việc tăng giá hơn nữa sẽ tạo gánh nặng cho người tiêu dùng với áp lực lạm phát bổ sung.

Bộ Nông nghiệp Thái Lan cho biết, khu vực miền trung của Thái Lan dự kiến sẽ chiếm gần 14% tổng diện tích trồng lúa vào năm 2023 và dự báo sẽ chiếm khoảng 19% vụ thu hoạch lúa chính trong niên vụ 2023-2024. Mực nước tại các hồ chứa lớn trong khu vực đang ở mức khoảng 51% dung tích. Chính phủ trước đó đã cảnh báo rằng El Niño có thể dẫn đến lượng mưa thấp bất thường và khuyên nông dân nên trồng một vụ trong năm nay thay vì hai vụ như bình thường. Tuy nhiên, một phần thiếu hụt từ Thái Lan sẽ được bù đắp bằng các lô hàng cao hơn từ Việt Nam, có khả năng vượt mục tiêu trong năm.

Theo Tổng cục Hải quan, Việt Nam đã xuất khẩu gạo nhiều hơn 21% trong sáu tháng đầu năm so với một năm trước đó, với các lô hàng xuất sang Philippines, Trung Quốc và Indonesia tăng lên. Việc gia tăng doanh số bán hàng ở nước ngoài sẽ không ảnh hưởng đến an ninh lương thực của Việt Nam. Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, Ấn Độ là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, chiếm 40% thương mại toàn cầu, trong khi Thái Lan và Việt Nam lần lượt chiếm 15% và khoảng 14%.

Các nhà xuất khẩu gạo ở Thái Lan và Việt Nam đang đàm phán lại giá đối với các hợp đồng mua bán khoảng nửa triệu tấn cho các lô hàng tháng 8, do lệnh cấm của Ấn Độ đã thắt chặt nguồn cung toàn cầu. Các nhà xuất khẩu đang gấp rút bao tiêu nguồn cung gạo từ những người nông dân đã tăng giá sau khi thị trường thế giới tăng vọt, khiến các thương vụ trị giá hàng triệu đô la Mỹ gặp rủi ro.

Cuối tháng trước, Ấn Độ đã cấm xuất khẩu gạo trắng trong bối cảnh tình hình sản xuất trong nước không chắc chắn, làm gia tăng lo ngại về nguồn cung lương thực đối với các nhà nhập khẩu mặt hàng chủ lực ở châu Á và châu Phi. Giá đã tăng kể từ khi Ấn Độ cấm xuất khẩu và rất khó để các nhà cung cấp thực hiện các hợp đồng đã ký với giá thấp hơn. Thái Lan và Việt Nam, lần lượt là các nước xuất khẩu thứ 2 và 3 thế giới, ước tính sẽ xuất khẩu hơn một triệu tấn gạo trong tháng 8. Giá toàn cầu của các loại gạo chính được vận chuyển trên toàn thế giới đã tăng khoảng 80 USD/tấn kể từ khi Ấn Độ áp đặt lệnh cấm vào ngày 20/7.

Giá gạo 5% tấm của Thái Lan tăng lên 625 USD/tấn, so với 545 USD khoảng hai tuần trước, trong khi loại tương tự từ Việt Nam đã tăng lên 590 USD/tấn so với 515 – 525 USD. Giá hiện tại cao hơn rất nhiều so với giá trong hợp đồng. Giá xuất khẩu tăng mạnh đã kéo theo giá lúa trong nước tăng mạnh. Một số thương nhân hiện đang gấp rút tăng tốc thu mua từ nông dân.

Các nhà nhập khẩu, bao gồm cả Philippines, có khả năng tìm kiếm các thỏa thuận trực tiếp với chính phủ của các nước xuất khẩu để đảm bảo nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng. Philippines sẽ tăng lượng gạo tồn kho, bao gồm cả nhập khẩu, với việc chính phủ khuyến khích các thương nhân tư nhân tăng cường thu mua.

https://congthuong.vn/thai-lan-keu-goi-giam-trong-lua-nien-vu-2023-2024-nguon-cung-gao-tren-thi-truong-co-thieu-hut-265114.html

Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Previous
Next
06/07/2026
Quốc gia Loại gạo Giá (USD/Tấn) +/
Min Max
Việt Nam Gạo thơm 5% tấm 510 520 +10
Jasmine 513 517
100% tấm 348 352
Thái Lan 5% tấm 471 475
100% tấm 406 410
Ấn Độ 5% tấm 352 356
100% tấm 284 288
Pakistan 5% tấm 408 412
100% tấm 324 328
Miến Điện 5% tấm 459 463
Từ ngày 02/07/2026-09/07/2026 (đồng/kg)
Loại Hàng Giá Cao Nhất Giá Bình Quân +/ Tuần Trước
Lúa tươi tại ruộng
Lúa thơm 6.800 6.536 221
Lúa thường 6.250 6.061 114
Gạo nguyên liệu
Lứt loại 1 10.750 10.208 233
Lứt loại 2 9.150 9.029 236
Xát trắng loại 1 12.150 11.780 250
Xát trắng loại 2 10.550 10.450 125
Phụ phẩm
Tấm 1/2 8.050 8.036 214
Cám xát/lau 8.100 7.843 71

Tỷ giá

06/07/2026
Mã NT Tên NT Units per USD
CNY Chinese Yuan Renminbi 6,79
EUR Euro 0,87
IDR Indonesian Rupiah 17.989,12
MYR Malaysian Ringgit 4,07
PHP Philippine Peso 61,49
KRW South Korean Won 1.527,50
JPY Yên Nhật Bản 160,91
INR Indian Rupee 95,46
MMK Burmese Kyat 2.099,75
PKR Pakistani Rupee 278,21
THB Thai Baht 33,30
VND Vietnamese Dong 26.292,38