Kinh doanh gạo thuận lợi tạo cơ hội cho Vinafood 1

(BĐT) – Bối cảnh thị trường xuất khẩu gạo thuận lợi với giá bán và nhu cầu ở mức cao dự báo duy trì đến cuối năm được đánh giá là cơ sở thuận lợi để Tổng công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1) tiếp tục có triển vọng kinh doanh tích cực trong năm 2023.

Kết quả kinh doanh hợp nhất của Vinafood 1 giai đoạn 2018 – 2022

Lãi tốt năm 2022

Năm 2022 là một năm thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam khi nhu cầu và giá bán các loại lương thực, ngũ cốc trên thế giới liên tục gia tăng ngay từ đầu năm.

Theo số liệu của Cục Xuất nhập khẩu thuộc Bộ Công Thương, sản lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam trong năm 2022 đạt 7,13 triệu tấn, kim ngạch đạt 3,45 tỷ USD, tăng 13,8% về sản lượng và tăng 5,1% về kim ngạch so với năm 2021. Giá gạo xuất khẩu bình quân đạt 486 USD/tấn, cao hơn đáng kể so với giai đoạn 2014 – 2019, trước khi đại dịch Covid-19 bùng phát.

Bối cảnh thuận lợi của thị trường đã giúp Vinafood 1 ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực trong năm 2022, với doanh thu thuần hợp nhất đạt 16.926,8 tỷ đồng, tăng 19,9% so với kết quả thực hiện trong năm 2021; lợi nhuận gộp đạt 1.289 tỷ đồng, tăng 16%. Riêng tại Công ty mẹ – Vinafood 1, doanh thu thuần trong năm 2022 đạt 10.347,4 tỷ đồng, tăng 16,7%; lợi nhuận gộp đạt 792,4 tỷ đồng, tăng 15,66% so với năm 2021.

Mặc dù tình hình kinh tế trong nước và trên thế giới có những biến động thất thường làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Tổng công ty như xu hướng giá nhiều loại nguyên vật liệu và giá cước vận tải tăng mạnh trong giai đoạn đầu năm 2022; mặt bằng lãi suất, tỷ giá tăng cao trong giai đoạn nửa cuối năm 2022 khiến chi phí quản lý, chi phí bán hàng và chi phí tài chính gia tăng, nhưng nhờ kết quả doanh thu và lợi nhuận gộp tích cực, sau khi khấu trừ chi phí, Vinafood 1 thu về 308,2 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế hợp nhất, tăng 4,8% so với kết quả thực hiện năm 2021.

Theo ông Phạm Thanh Bằng – Phó Tổng giám đốc Vinafood 1, đóng góp vào kết quả kinh doanh 2022 là việc Tổng công ty tận dụng sự chuyển biến tích cực của thị trường xuất khẩu gạo các tháng cuối năm để tăng tốc khai thác các hợp đồng xuất khẩu. Bên cạnh việc duy trì thị trường Cuba, Tổng công ty đã mở rộng sang nhiều thị trường thương mại khác như Philippines, Malaysia, châu Phi, Trung Quốc…

Triển vọng lạc quan năm 2023

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 5/2023 ước đạt 1 triệu tấn với giá trị 489 triệu USD. Lũy kế 5 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu gần 3,9 triệu tấn gạo, đạt giá trị 2,057 tỷ USD, tăng 40,8% về khối lượng và 49% về giá trị so với cùng kỳ năm 2022. Giá gạo xuất khẩu bình quân trong 5 tháng đầu năm đạt 517 USD/tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước. Đây cũng là mức giá cao nhất trong 10 năm trở lại đây.

Từ nay đến cuối năm, hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam được đánh giá vẫn có nhiều thuận lợi với nhu cầu và giá bán dự báo duy trì ở mức cao.

Theo phân tích của Fitch Solutions – tổ chức thống kê, phân tích thị trường tại Mỹ, nguồn cung gạo toàn cầu đang thiếu hụt do tác động của cuộc xung đột Nga – Ukraine cũng như việc thời tiết không thuận lợi ở nhiều nền kinh tế sản xuất lúa gạo hàng đầu thế giới. Dự báo, thị trường gạo toàn cầu sẽ thiếu hụt 8,7 triệu tấn trong niên vụ 2022 – 2023, mức cao nhất kể từ niên vụ 2003 – 2004 và giá gạo sẽ duy trì ở mức cao cho đến năm 2024. Bộ Nông nghiệp Mỹ (USSA) dự báo, xuất khẩu gạo của Việt Nam có thể đạt 7,4 triệu tấn trong năm 2023. Bối cảnh thị trường thuận lợi và việc duy trì cơ cấu tài chính mạnh là nền tảng quan trọng giúp Vinafood 1 có triển vọng kinh doanh khả quan trong năm nay.

Trong những tháng đầu năm, nhiều “ông lớn” ngành xuất khẩu gạo khác vẫn đang trong tình trạng biên lợi nhuận mỏng, thậm chí thua lỗ vì chi phí lãi vay gia tăng. Quý I/2023, Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2) ghi nhận lợi nhuận sau thuế của cổ đông Công ty mẹ lỗ 7,1 tỷ đồng dù doanh thu tăng trưởng 59,4%. Công ty CP Tập đoàn Lộc Trời báo lỗ sau thuế 81,2 tỷ đồng dù doanh thu tăng 4,5%, trong đó doanh thu mảng lúa, gạo tăng 41,6%.

Trong khi đó, Vinafood 1 vẫn đang duy trì được cơ cấu tài chính khá an toàn với tổng dư nợ vay ngắn và dài hạn đến cuối năm 2022 đạt 4.628 tỷ đồng, chỉ chiếm 31,4% cơ cấu nguồn vốn. Tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu ở mức 0,61 lần, Bên cạnh đó, Tổng công ty đang có 6.470 tỷ đồng tiền, tương đương tiền và tiền gửi có kỳ hạn các loại. Nhờ vậy, phần doanh thu hoạt động tài chính (chủ yếu là lãi tiền gửi) đã bù đắp đáng kể cho các khoản chi phí tài chính như lãi vay, lỗ tỷ giá…

Theo Báo cáo mục tiêu tổng quát, kế hoạch kinh doanh năm 2023 của Công ty mẹ – Vinafood 1 gửi Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và Bộ Kế hoạch Đầu tư, năm 2023, Tổng công ty đặt mục tiêu tiếp tục giữ vững thị phần tại các thị trường lớn như Cuba, Philippines, Indonesia, Malaysia…, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu và đẩy mạnh kinh doanh nội địa. Riêng tại Công ty mẹ – Vinafood 1, sản lượng lương thực mua vào năm nay dự kiến là 916.151 tấn, sản lượng bán ra là 860.453 tấn, sản lượng gạo xuất khẩu mục tiêu 571.256 tấn. Tổng doanh thu dự kiến 8.700 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 269 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 208 tỷ đồng.

Khơi thông “điểm nghẽn”, giảm chi phí logistics cho vùng đồng bằng sông Cửu Long

Là một trong 6 vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, mặc dù thời gian qua, để đánh thức tiềm năng khu vực ĐBSCL, Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương đã đầu tư rất nhiều nguồn lực để phát triển hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng về giao thông logistics, nhưng theo nhận định chung thì vùng ĐBSCL phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế.

Theo các chuyên gia, vùng ĐBSCL đang phải đối mặt với tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thiên tai, sụt lún và hạn mặn. Khi hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng giao thông được đầu tư đồng bộ, các nguồn vốn nếu được hỗ trợ kịp thời, thì những thế mạnh về nông nghiệp, du lịch, năng lượng tái tạo, bất động sản logistics, công nghiệp sẽ phát triển mạnh và gắn kết với liên kết vùng miền.

PGS.TS Trần Đình Thiên – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế trung ương cho rằng, vùng ĐBSCL với những lợi thế về đất đai màu mỡ, sông nước, phù sa và thời tiết thuận lợi, nhưng những lợi thế này đang chuyển thành bất lợi làm thay đổi các điều kiện phát triển. Dù có nhiều thế mạnh về thủy sản, trái cây, lúa gạo và gánh vác trên vai sứ mệnh đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước nhưng người dân vùng ĐBSCL thu nhập vẫn thấp hơn so với mức trung bình của cả nước.

Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là nguồn vốn đầu tư công và thu hút vốn FDI thấp hơn so với các vùng, miền. Thách thức từ sạt lở bờ sông, bờ biển hay tình trạng di dân cũng ảnh hưởng đến phát triển của vùng và mối đe dọa đang hiện hữu là nguồn nước ngọt dồi dào đang suy giảm mạnh, ô nhiễm diện rộng, phù sa giảm và nước biển dâng.

Ông Tạ Quang Vinh – Cục trưởng Cục Hạ tầng kỹ thuật, Bộ Xây dựng nhìn nhận, hạ tầng kỹ thuật vùng ĐBSCL còn yếu, thiếu đồng bộ và thiếu tính liên kết. Các dự án công trình đầu mối hạ tầng khung của vùng chưa được đầu tư đồng bộ, dẫn đến hiệu quả tính liên kết vùng chưa đáp ứng được yêu cầu.

Theo ông Vinh, chất lượng nội dung quy hoạch kỹ thuật trong một số đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật nhìn chung còn thấp và thiếu đồng bộ chưa đảm bảo ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

Thứ hai tình hình biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan diễn biến ngày càng phức tạp tác động lớn đến kết cấu hạ tầng kỹ thuật, đô thị gây rất nhiều khó khăn cho công tác lập, triển khai quy hoạch và các dự án đầu tư, một số đô thị trong vùng còn có hiện tượng sụt lún nền đất, tình trạng ngập úng đô thị vẫn còn xảy ra như tại TP. Cần Thơ và Mỹ Tho.

Cần sự giám làm, giám chịu trách nhiệm của các địa phương.

Để tháo gỡ điểm nghẽn, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai nhiều giải pháp để phát huy tiềm năng, lợi thế, tạo động lực phát triển kinh tế, xã hội vùng ĐBSCL trở thành trung tâm kinh tế năng động của cả nước.

Tiến sĩ Võ Trí Thành – Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh nhìn nhận, phát triển hạ tầng cho ĐBSCL đã chậm trong nhiều năm qua và muốn vùng phát triển nhanh cần phải có cơ chế chính sách đặc biệt. Theo đó, phát triển vùng ĐBSCL phải trở thành trung tâm logistics mang tầm quốc tế, không chỉ kết nối trong vùng, kết nối với TP. Hồ Chí Minh mà còn kết nối quốc tế. Ngoài ra, phát triển hạ tầng vùng ĐBSCL phải đặc thù, đặc biệt, thích ứng với biến đổi khí hậu và điều kiện hệ sinh thái cho phát triển nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa.

Các chuyên gia đều cho rằng, trong một thời gian dài hạ tầng giao thông chưa đồng bộ đã khiến vùng ĐBSCL bị tụt hậu so với các vùng kinh tế trọng điểm khác trên cả nước, hàng hóa nông sản chủ lực của vùng phải gánh chi phí logistics tăng cao, giảm sức cạnh tranh.

Cấn Văn Lực – thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia cho rằng, từ nay đến năm 2030, mỗi năm Việt Nam sẽ cần 25 – 30 tỷ USD đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Trong đó, ngân sách chỉ lo được khoảng 60% nhu cầu vốn, 40% vốn còn lại phải huy động từ nguồn lực bên ngoài. Riêng trong giai đoạn 2021 – 2025, Việt Nam cần 2 triệu tỷ đồng đầu tư cho hạ tầng giao thông, trong đó, đường bộ chiếm 50% nhu cầu vốn.

Giai đoạn 2021 – 2025, vùng ĐBSCL được ưu tiên đầu tư từ nguồn vốn đầu tư công 90.000 tỷ đồng với 11 dự án thành phần và nguồn vốn này cũng chỉ đáp ứng được phần nào trong tổng vốn đầu tư của cả vùng. Để vùng nhanh chóng phát triển thì các địa phương cần đẩy nhanh hoàn thành các quy hoạch giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2045; đồng thời, đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công nói chung và vốn ODA.

Ngoài ra, cần nâng cao chất lượng, năng lực thẩm định, thi công và quản lý các dự án, không để xảy ra việc đội vốn, chậm tiến độ và đẩy mạnh liên kết vùng; đặc biệt là sự vào cuộc của các địa phương vì lợi ích phát triển chung của vùng ĐBSCL./.

https://baodauthau.vn/kinh-doanh-gao-thuan-loi-tao-co-hoi-cho-vinafood-1-post139738.html

Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Đoàn Xúc tiến thương mại năm 2023 tại Đặc khu hành chính Hồng Kông
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Cuộc thi Gạo Ngon Việt Nam lần III năm 2022
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Đoàn Xúc tiến thương mại Quốc gia tại Philippines
Previous
Next

Từ ngày 27/06/2024-04/07/2024
(đồng/kg)

Loại Hàng Giá cao nhất Giá BQ +/- tuần trước
Lúa thường tại ruộng       7.050        6.971  -136 
Lúa thường tại kho       8.850        8.617  -192 
Lứt loại 1     11.450      10.975  -217 
Xát trắng loại 1      13.450      12.917  -175 
5% tấm     13.350      13.171  -121 
15% tấm     13.150      12.908  -183 
25% tấm     12.750      12.492  -167 
Tấm 1/2     10.450        9.664  -164 
Cám xát/lau       7.150        7.000  +21 

Tỷ giá

Ngày 12/07/2024
Mã NT Tên NT Units per USD
CNY Chinese Yuan Renminbi 7,25
EUR Euro 0,92
IDR Indonesian Rupiah 16089,64
MYR Malaysian Ringgit 4,67
PHP Philippine Peso 58,40
KRW South Korean Won 1375,23
JPY Japanese Yen 157,95
INR Indian Rupee 83,52
MMK Burmese Kyat 2098,86
PKR Pakistani Rupee 278,45
THB Thai Baht 36,12
VND Vietnamese Dong 25533,06