Tập trung khắc phục ngập úng, bảo vệ sản xuất nông nghiệp

Bạc Liêu đang khẩn trương triển khai các giải pháp tập trung khắc phục ngập úng, bảo vệ sản xuất nông nghiệp do mua lớn kéo dài làm mực nước dâng cao.

Mưa lớn kéo dài hơn 10 ngày vào giữa tháng 7 đã làm cho mực nước dâng cao gây nhiều thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp cũng như sinh hoạt của người dân. Ảnh: Trọng Linh.

Những ngày này, người dân ở các huyện Vĩnh Lợi, Hồng Dân và huyện Phước Long của tỉnh Bạc Liêu đang phải đối mặt với nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết. Mưa lớn kéo dài hơn 10 ngày đã làm cho mực nước dâng cao gây nhiều thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp cũng như sinh hoạt của người dân.

Trước tình hình trên, Ban Chỉ huy PCTT-TKCN tỉnh Bạc Liêu khẩn trương triển khai các giải pháp tập trung khắc phục ngập úng, bảo vệ sản xuất nông nghiệp.

Nước ngập sâu ruộng lúa, hoa màu và tràn vào nhà, đâu đâu cũng toàn là nước. Mấy ngày nay, ông Trần Công Định, ngụ ấp Vĩnh Phú B, xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long (Bạc Liêu) đứng ngồi không yên vì hơn 1,5 ha ruộng sản xuất vụ lúa hè thu ngập sâu trong nước. Lúa đang trong giai đoạn làm đồng mà  rơi vào tình cảnh như vậy, ông Định chỉ còn biết than trời.

Không chỉ vậy, sân trước nhà ông của cũng ngập khá sâu, gia đình đành phải mang xe gắn máy đi gửi nhà hàng xóm., các thành viên trong gia đình có việc đi ra ngoài phải dựa vào thang để đi như thế này.

Ông Định, cho biết: “Nước ngập đã hơn 10 ngày này rồi, nước ngập tràn làn nên bây giờ cũng không biết bơm tháo đi đâu. Giờ gia đình phải làm cái cầu tạm để đi lại, nước ngập làm ảnh hưởng đến các trà lúa đang trổ đòng đòng của gia đình, nếu không xuống thì mùa này sẽ mất mùa chắc chắn”.

Ông Nguyễn Hoàng Mến, Trưởng phòng NN-PTNT huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, cho biết: “Đối với huyện vụ này có trên 13.000 ha, trong đó có nhiều xã vùng trũng bị ảnh hưởng cục bộ trên 136 ha, cùng đó và nhiều ha rau màu, ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của bà con”.

Do ảnh hưởng mưa nên việc thu hoạch lúa của bà con tại huyện Hồng Dân bị chậm lại. Ảnh: Trọng Linh.

Thống kê của Văn phòng Ban Chỉ huy PCTT-TKCN tỉnh Bạc Liêu, chỉ tính trong 10 ngày từ giữa tháng 7 đến nay, lượng mưa đo được hơn 1 tháng trước đó cộng lại. Mực nước trên tất cả các tuyến sông, các trục kênh nội đồng do mưa nên dâng rất cao dù ngành nông nghiệp đã chỉ đạo mở tất cả các cống để tháo nước.

Theo ngành nông nghiệp huyện Hồng Dân, toàn huyện có 9.239ha lúa hè thu. Đến nay, nông dân trong huyện thu hoạch được 160ha. Do ảnh hưởng mưa nên việc thu hoạch lúa của bà con chậm, trong đó khoảng 220ha lúa trong giai đoạn 60 ngày tuổi bị ngập úng và thiệt hại khoảng 50%. Còn tại huyện Phước Long đã có trên 200 ha lúa bị ngập, thiệt hại từ 70% trở lên, 17ha rau má và hơn 3ha bắp bị ảnh hưởng…

Trước diễn biến phức tạp khó lường của thời tiết, để giảm thiệt hại tới mức thấp nhất đối với diện tích lúa và hoa màu của nông dân do ngập úng gây ra, Ban Chỉ huy PCTT-TKCN tỉnh Bạc Liêu cũng đã cử nhiều đoàn công tác đến khảo sát tại các địa phương bị ảnh hưởng do ngập úng, chỉ đạo cho các đơn vị vận hành liên tục mở các cống để tháo nước, nhằm giảm mực nước trên các tuyến kênh nội đồng, cứu lúa hè thu.

Ông Lai Thanh Ẩn, Chánh Văn phòng Ban Chỉ huy PCTT-TKCN tỉnh Bạc Liêu: “Do mưa dồn dập nên mực nước trên nội đồng cao. Cụ thể là chúng tôi đo được trê kênh Quản lộ Phụng Hiệp lên đén dương 1m và có hiện tượng tràn bờ ở một số tuyến lộ thấp. Nước dâng cao nên gây ngập trên các diện tích lúa Hè Thu của tỉnh, trong đó có nhiều diện tích của huyện Hồng Dân và Phước Long”.

Theo dự báo của Trung tâm khí tượng thủy văn Quốc gia, trong vài ngày tới lượng mưa khu vực phía Nam, trong đó có tỉnh Bạc Liêu sẽ giảm. Đây là điều kiện thuận lợi để triển khai các giải pháp nhanh chóng khắc phục ngập úng. Ngành nông nghiệp tỉnh Bạc Liêu đang cho vận hành mở toàn bộ hệ thống cống thoát nước tiêu úng để giúp cho người dân ở vùng đang ngập nước giảm bớt thiệt hại, sớm ổn định sinh hoạt và sản xuất. Đống thời phối hợp với các địa phương rà soát, triển khai xây dựng hoàn thiện các ô đê bao khép kín, gắn với xây dựng các trạm bơm điện cho vùng sản xuất lúa.

Trọng Linh

https://nongnghiep.vn/tap-trung-khac-phuc-ngap-ung-bao-ve-san-xuat-nong-nghiep-d329335.html

Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Hong Kong SAR, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Đoàn Xúc tiến Thương mại tại Quảng Châu, Trung Quốc 2025
Previous
Next
Ngày 14/04/2026
Quốc gia  Loại gạo Giá
(USD/tấn)
+/
 Min Max 
 Việt Nam Gạo thơm 5% tấm 460 465
 Jasmine 454 458
 100% tấm 333 337
 Thái Lan 5% tấm 378 382
 100% tấm 357 361
 Ấn Độ 5% tấm 336 340
 100% tấm 284 288
 Pakistan 5% tấm 349 353
 100% tấm 319 323
 Miến Điện 5% tấm 362 366

 

Từ ngày 02/04/2026 – 09/04/2026 (đồng/kg)
Loại HàngGiá Cao NhấtGiá Bình Quân+/- Tuần Trước
Lúa tươi tại ruộng
Lúa thơm5.9505.686+96
Lúa thường5.5505.461+82
Gạo nguyên liệu
Lứt loại 19.2508.650+138
Lứt loại 28.8508.300+161
Xát trắng loại 110.45010.105+410
Xát trắng loại 210.2509.530+510
Phụ phẩm
Tấm 1/27.7507.639+14
Cám xát/lau7.6507.114+32

Tỷ giá

Ngày 15/04/2026
Mã NT Tên NT  Units per USD
CNY Chinese Yuan Renminbi 6,82
EUR Euro 0,85
IDR Indonesian Rupiah 17.134,57
MYR Malaysian Ringgit 3,95
PHP Philippine Peso 59,80
KRW South Korean Won 1.471,41
JPY Japanese Yen 158,92
INR Indian Rupee 93,08
MMK Burmese Kyat 2.100,23
PKR Pakistani Rupee 278,86
THB Thai Baht 31,99
VND Vietnamese Dong 26.280,83